đặt vấn đề nghiên cứu với phạm vi khá rộng về cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán, gồm (i) các đơn vị dự toán khu vực hành chính, và (ii) đơn vị dự toán khu vực dịch vụ công cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa thể thao… cho xã hội. Trong nghiên cứu này, Nguyễn Hồng Hà đã thống nhất cho rằng “cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán là tổng hòa các quy định, quy tắc, biện pháp, công cụ, cách thức quản lý tài chính được pháp quy hóa (bằng các văn bản pháp quy) do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành áp dụng đối với các đơn vị dự toán” [55], từ đó kết hợp đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính đang áp dụng tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp y tế, đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo, gắn với chu trình dự toán ngân 11 sách hàng năm, để chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác lập, chấp hành dự toán, quyết toán ngân sách, các chế độ, định mức chi tiêu hiện hành, và tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị dự toán. Theo đó, Nguyễn Hồng Hà đã đưa ra 05 nhóm giải pháp cơ bản và các nhóm giải pháp bổ trợ nhằm: đổi mới quy trình dự toán và phân bổ dự toán gắn với kết quả đầu ra; cơ cấu lại nguồn NSNN cấp và đổi mới điều hành tài chính đối với các đơn vị dự toán; thay đổi căn bản phương thức cấp phát ngân sách thường xuyên cho khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp công; hoàn thiện chính sách giá, phí dịch vụ công trong tiến trình cải cách tài chính công ở Việt Nam hiện nay. Tuy vậy, do nghiên cứu với phạm vi rộng và chủ yếu từ giác độ quản lý nhà nước, nên mặc dù có những phân tích khá kỹ về hệ thống các văn bản pháp lý quy định về công tác quản lý tài chính đang áp dụng đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, nhưng vị trí, vai trò (hay cụ thể hơn là quyền - lợi ích) của các chủ thể khác ngoài nhà nước, như (chính) các đơn vị sự nghiệp công lập, trong xây dựng, vận hành cơ chế quản lý tài chính (những quy định về công tác quản lý tài chính) còn khá mờ nhạt, nên các giải pháp đưa ra chủ yếu mang tính định hướng vĩ mô.
Với đề tài luận án “Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” [123], tác giả Vũ Thị Thanh Thủy đã tiếp cận và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung quản lý tài chính gồm: (1) quản lý thu - chi, (2) quản lý tài sản, và (3) quản lý tài chính theo hướng tự chủ tài chính, trong đó “mục tiêu của việc quản lý tài chính là tăng thu, tiết kiệm chi, tăng tích lũy hướng đến bền vững tài chính” [123, tr. Thông qua phân tích mô hình nghiên cứu (i) các nhân tố ảnh hưởng/tác động tới quản lý tài chính các trường đại học công lập (nhân tố vĩ mô, nhân tố vi mô), (ii) các nhân tố ảnh hưởng/tác động tới tự chủ tài chính của các trường đại học (tài sản công hiện có, đội ngũ giảng viên, thương hiệu trường đại học và tính chất kinh doanh năng động của người đứng đầu trường đại học), luận án đã phân tích, đánh giá những hạn chế trong quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập ở Việt Nam, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến hạn chế và đề xuất các giải pháp (vĩ mô, vi mô) khá toàn diện, nhằm hoàn thiện quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập Việt Nam, trong đó theo Vũ Thị Thanh Thủy giải pháp 12 tăng cường/đảm bảo thiết lập điều kiện tự chủ tài chính các trường đại học công lập cần được ưu tiên thực hiện trước. Tuy nhiên, một trong những quan điểm/quan niệm mới rất có giá trị tham khảo của luận án đó là “bền vững tài chính” lại chưa được tác giả hệ thống, phân tích một cách sắc nét để thấy được rõ hơn mục tiêu của quản lý tài chính (không chỉ dừng lại ở tự chủ tài chính, mà cuối cùng là bền vững tài chính). Tác giả Lương Thị Huyền với luận án “Quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo ở Việt Nam” [85], đã tổng kết và có những đánh giá khá cụ thể về quản lý tài chính các trường đại học công lập thông qua phân tích 03 nội dung: (1) quản lý thu, (2) quản lý chi, và (3) quản lý việc phân phối kết quả hoạt động tài chính, với chủ thể quản lý là Nhà nước - dưới giác độ đưa ra các cơ chế quản lý tài chính, nhằm tạo hành lang pháp lý cho các trường đại học công lập hoạt động một cách hiệu quả.
Trong luận án này, Lương Thị Huyền đã tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý thu, quản lý chi và quản lý việc phân phối kết quả hoạt động tài chính tại các trường đại học công lập thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, với 03 trường được chọn mẫu điển hình, thuộc các mức độ phân loại tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên khác nhau, để chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân của các cơ chế hiện hành. Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra (i) quan điểm đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam, và (ii) đề xuất 03 nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính các trường đại học công lập thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Qua tổng kết, hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về giáo dục đại học với phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học, và xuất phát từ những đặc thù trong hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an, trong đề tài luận án “Hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an” [67], tác giả Nguyễn Xuân Hiệp quan niệm chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học là “hệ thống các quan điểm, các mục tiêu, các giải pháp trong việc khai thác, huy động và phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học đảm bảo thực thi chính sách và chiến lược giáo dục đại học trong từng thời kỳ” [67, tr.28]; theo đó, chính sách tài chính 13 đối với các cơ sở giáo dục đại học được xác định gồm 05 yếu tố: (i) mục tiêu của chính sách, (ii) chủ thể của chính sách, (iii) đối tượng của chính sách, (iv) các giải pháp của chính sách, (v) các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoạch định và thực thi chính sách. Từ đó, Nguyễn Xuân Hiệp đã tập trung (1) phân tích, chỉ ra những thành tựu, kết quả đạt được, cũng như những hạn chế, bất cập của chính sách khai thác, huy động và phân phối, sử dụng nguồn tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an, (2) đề xuất quan điểm, định hướng và 03 nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an, trong đó nhấn mạnh một số giải pháp như: chuyển dần phương thức quản lý theo đầu vào sang phương thức quản lý theo kết quả hoạt động đối với nguồn tài chính từ NSNN; xây dựng và hoàn thiện các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư cho giáo dục đại học; mở rộng xã hội hóa các nguồn lực cho các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an; nghiên cứu ban hành chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho đội ngũ giáo viên và cán bộ làm công tác tài chính, kế toán tại các cơ sở giáo dục đại học;… Tuy vậy, luận án chưa phân tích được rõ nét vị trí, vai trò của các cơ sở giáo dục đại học (các trường trực thuộc Bộ Công an), Bộ Công an (cơ quan chủ quản/đơn vị dự toán cấp I) trong quá trình xây dựng, thực thi và hoàn thiện chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an; các giải pháp được đưa ra trong luận án mới chủ yếu dừng lại ở tầm chủ trương, định hướng hơn là những giải pháp, khuyến nghị cụ thể để bảo đảm sớm khắc phục được hạn chế, bất cập của chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an mà luận án đã chỉ ra.
Với giả thiết “các trường đầu tư nhiều hơn vào các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thì chất lượng giáo dục đại học sẽ tăng lên” [148, tr.61], trong đề tài luận án “Tác động của công tác quản lý tài chính đến chất lượng giáo dục đại học - nghiên cứu điển hình tại các trường đại học thuộc Bộ Công thương” [148], tác giả Nguyễn Minh Tuấn đã đi sâu nghiên cứu tác động của công tác quản lý tài chính đến chất lượng giáo dục đại học thông qua (việc tác động đến) các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học, gồm: (1) chương trình đào tạo, (2) đội ngũ giảng viên, (3) cơ sở vật chất, (4) học liệu phục vụ học tập, và (5) quản lý hoạt động đào tạo. Kết hợp với nghiên cứu thực tiễn tại các trường đại học thuộc Bộ Công thương, 14 luận án đã chỉ ra rằng công tác quản lý tài chính có tác động lớn tới chất lượng giáo dục, và tác động này thể hiện ở cơ cấu sử dụng nguồn lực tài chính, tỷ lệ đầu tư tài chính càng cao cho các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, thì chất lượng giáo dục càng cao. Có thể thấy đây là công trình nghiên cứu khá công phu của tác giả Nguyễn Minh Tuấn, với dữ liệu phân tích phong phú và thông tin phản ánh nhiều chiều.