CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Trường đại học công lập với hệ thống giáo dục đại học 1. Khái quát về giáo dục Đại học 1. Khái niệm giáo dục Đại học Loài người đang chuyển dần từ một nền văn minh máy móc, hóa chất, dầu lửa sang nền văn minh sinh học và thông tin.
Nền kinh tế thế giới bước vào nền kinh tế gọi là nền kinh tế tri thức. Một nền kinh tế vừa tạo ra những thách thức, những cơ hội mới, vừa tạo ra những khả năng để vượt lên thách thức, nguy cơ đó. Vì thế chạy đua để phát triển kinh tế là một vấn đề sống còn đối với bất cứ một quốc gia nào. Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa đã và đang diễn ra với quy mô ngày càng rộng, tốc độ phát triển ngày càng tăng do lực lượng sản xuất thế giới ngày càng xã hội hóa và quốc tế hóa.
Nền kinh tế thế giới phát triển như một chỉnh thể trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận có quan hệ chặt chẽ. Từ đó làm cho mỗi quốc gia phải phụ thuộc lẫn nhau về vốn, kỹ thuật, công nghệ, nguyên liệu và thị trường. Do đó, ngày nay bất cứ một quốc gia nào dù lớn mạnh và giàu có đến đâu cũng không thể tự mình giải quyết được những nhu cầu của nền kinh tế – xã hội. Bất cứ một quốc gia nào muốn “bế quan tỏa cảng”, tách biệt ra khỏi nền kinh tế thế giới đều coi như một hành động tự sát.
Hệ thống giáo dục và đào tạo của các nước nói chung và của Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó. Một câu hỏi đặt ra làm thế nào để đổi mới chất lượng giáo dục và đào tạo Việt Nam khi chưa quá muộn, khi chưa có sự ồ ạt của đào tạo quốc tế vào Việt Nam. Tri thức ngày càng được đánh giá cao trong mọi lĩnh vực. Sự ra đời của những sản phẩm mang tính giáo dục cao chỉ có trong các trường đào tạo.
Ngày nay, nói đến giáo dục mọi người đều dễ dàng đi đến một nhất trí cao đó chính là lĩnh vực phải ưu tiên hàng đầu. Lịch sử đã cho thấy giáo dục đã xuyên suốt quá trình phát triển của xã hội; từ chế độ công xã nguyên thuỷ, trải qua chế độ nô lệ, chế độ phong kiến đến chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ XHCN. Những hiểu biết và kinh nghiệm của con người đó chính là tri thức. Sự truyền bá cho nhau những hiểu biết và kinh nghiệm của con người đó chính là giáo dục.
Chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã và xã hội phát triển sang thời kỳ chế độ nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ XHCN; theo đó giáo dục có trường lớp cũng xuất hiện và càng phát triển để thực hiện việc dạy và học nhằm phổ biến, truyền bá tri thức cho người học. Giáo dục có trường lớp có tính tổ chức cao, tri thức truyền bá cho người học có tính hệ thống và nhằm mục đích đã được định trước. 2 Cùng với sự phát triển của xã hội, thông qua cuộc sống lao động sáng tạo và khám phá tự nhiên - xã hội, kho tri thức của nhân loại ngày càng phát triển và tích luỹ thành một khối lượng khổng lồ; điều đó khẳng định sự tồn tại và phát triển tất yếu của giáo dục trong đời sống kinh tế - xã hội. Như vậy: “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người.
Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội” [51] Theo nghĩa rộng, giáo dục được hiểu là sự truyền bá và lĩnh hội tri thức để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực của con người. Theo nghĩa hẹp gắn với hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua việc tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội có hệ thống tri thức của xã hội loài người; nhằm giúp con người phát triển toàn diện, có lý tưởng, đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ, nghề nghiệp và hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân. Từ hai quan niệm trên về giáo dục cho thấy rõ bản chất hoạt động và mục tiêu của giáo dục. Bản chất hoạt động của giáo dục là truyền đạt và lĩnh hội tri thức.
Sự truyền đạt và lĩnh hội đó có tác động qua lại lẫn nhau để người học chủ động lựa chọn, lĩnh hội, sáng tạo và phát triển tri thức mới đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại. Mục tiêu của giáo dục là hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực “giá trị” của con người nhằm phục vụ yêu cầu phát triển KTXH. Phẩm chất của con người là phẩm chất đạo đức, niềm tin, lập trường, tư tưởng và thái độ… của họ trong cuộc sống xã hội. Năng lực của con người là tri thức, chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo mà mỗi con người tích luỹ được và khả năng vận dụng chúng vào thực tiễn cuộc sống KTXH.
Giáo dục phẩm chất và năng lực của con người là hai mặt có quan hệ biện chứng với nhau tạo nên giá trị của mỗi con người trong mối quan hệ tổng hoà với xã hội, làm cho con người phát triển toàn diện trở thành người vừa có “đức” vừa có “tài”; từ đó có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội. Mục tiêu giáo dục của mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào chế độ chính trị và quan điểm phát triển giáo dục của quốc gia đó, bởi vì “Giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo chế độ chính trị - kinh tế của xã hội” [51]. Mục tiêu của giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ”[ 60]. Giáo dục theo nghĩa rộng cho thấy ở đâu có sự truyền đạt và lĩnh hội tri thức, sự tác động 3 qua lại để hình thành phẩm chất và năng lực của con người thì ở đó có giáo dục.
Như vậy, giáo dục có thể được tiến hành ở nhà trường và các CSGD khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân hoặc có thể thực hiện được ở gia đình, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và theo nguyên lý “Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Giáo dục là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng con người theo những khía cạnh khác [20]. Giáo dục với khái niệm rộng hơn gần giống như nghĩa “nghiên cứu”. Theo giáo sư Malcolm Gillis – Hiệu trưởng trường đại học Rice, Hoa Kỳ cho rằng có 3 loại nghiên cứu chính thức là có 3 loại giáo dục: - Giáo dục chính quy (Formal Education) là tất cả các quá trình giáo dục được thực hiện tại nhà trường và thường gồm những người học còn trẻ chưa phải lao động kiếm sống.
- Giáo dục không chính quy (Nonformal Education) có thể được coi là là những quá trình giáo dục có tổ chức, được tiến hành bên ngoài các trường học. Những người tham gia là những người lớn. Các chương trình học thường xuyên ngắn gọn và tập trung trong diện hẹp hơn so với giáo dục chính quy. Giáo dục không chính quy có thể liên quan tới cách dạy kỹ năng, bồi dưỡng nghiệp vụ hoặc các đối tượng khác như xoá mù chữ.
- Giáo dục không chính thức (Informal Education) là quá trình học tập, nghiên cứu được tiến hành bên ngoài của bất kỳ một cơ cấu tổ chức nào hoặc một chương trình nào đó. Người học có thể tự nghiên cứu ở nhà, trong khi làm việc và trong quá trình giao tiếp xã hội [21]. Giáo dục theo nghĩa hẹp muốn nói đến hoạt động giáo dục được tiến hành ở nhà trường và các cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, nơi hoạt động giáo dục được tổ chức một cách chặt chẽ và chịu sự quản lý thống nhất của Nhà nước về mục tiêu, chương trình, nội dung, văn bằng, chứng chỉ… Luật giáo dục 2005 của Việt Nam ghi rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiên phân công, phân cấp quản lý giáo dục” [60]. Cùng với khái niệm giáo dục, người ta còn nói tới khái niệm đào tạo.
Thực chất quan niệm này chia hệ thống giáo dục quốc dân thành hai khối là khối giáo dục và khối đào tạo hay sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp đào tạo. Giáo dục nhằm trang bị cho người học vốn kiến thức phổ thông cơ bản nhất về tự nhiên, xã hội, sức khoẻ, môi trường, khoa học, nghệ thuật, hướng nghiệp… để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực nội tại cá nhân. Từ đó, giúp người học có thể học tiếp tục lên những bậc học cao hơn mang tính chuyên môn và nghề nghiệp, tự học, học suốt đời, tham gia lao động sản xuất, chung sống với cộng đồng theo những chuẩn mực chung của xã hội và phù hợp với trình độ phát triển của xã hội. Đào tạo là quá trình phát 4 triển con người một cách có hệ thống các tri thức chủ yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, nghề nghiệp, kỹ năng, kỹ xảo… nhằm giúp con người có vốn kiến thức, tự phát triển và vận dụng vốn kiến thức của bản thân để thực hiện những nghề nghiệp, nhiệm vụ chuyên môn nhất định.
Từ đó, quan niệm về đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay và các giai đoạn tiếp theo là các hoạt động học tập, đào tạo hoặc đào tạo, nghiên cứu do các cơ sở đại học tổ chức và thực hiện nhằm đảm bảo cung cấp cho người học một số tri thức, kỹ năng nghề nghiệp tương ứng với trình độ và theo đúng chương trình, thời gian do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã quy định cho đào tạo ở bậc đại học. Luật giáo dục 2005 của Việt Nam quy định, các cấp học và trình độ đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay bao gồm: a. Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; b.