Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Quản lý tài chính các trường Đại học công lập ở Việt Nam" được thực hiện bởi tác giả Vũ Thị Thanh Thủy vào năm 2012 tại Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Vũ Duy Hào và TS. Đinh Tiến Dũng.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ với tư cách là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sau hơn 60 năm hình thành và phát triển, giáo dục đại học Việt Nam đã có nhiều chuyển biến, song vẫn bộc lộ những tồn tại kéo dài: chất lượng đào tạo chưa cao, quy mô chưa đáp ứng nhu cầu xã hội, cơ cấu hệ thống mạng lưới trường lớp còn bất hợp lý, quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình xã hội của các cơ sở giáo dục đại học còn hạn chế, chương trình đào tạo còn xơ cứng và phương pháp giảng dạy chậm đổi mới. Một trong những nguyên nhân cơ bản tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo là công tác quản lý tài chính. Mặc dù tỷ trọng đầu tư từ Ngân sách Nhà nước (NSNN) cho giáo dục đại học liên tục tăng trưởng qua các năm, song do nguồn thu ngân sách còn hạn hẹp, mức đầu tư tập trung chủ yếu ở các trường đại học công lập (ĐHCL). Việc phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính tại các trường ĐHCL chưa đạt hiệu quả mong muốn; cơ chế quản lý tài chính tại một số cơ sở còn lỏng lẻo, tình trạng "cha chung không ai khóc" còn tồn tại. Bên cạnh đó, thực tế phát sinh những sai phạm trong quản lý tài chính tại một số trường đại học gây bức xúc trong dư luận xã hội. Khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), áp lực cạnh tranh giáo dục quốc tế đòi hỏi phải đổi mới toàn diện công tác quản lý tài chính tại các trường ĐHCL.
Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào quản lý tài chính doanh nghiệp hoặc dừng lại ở cơ chế tài chính chung chung, mang nặng tính lý thuyết hàn lâm. Các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính trường học phần lớn tiếp cận ở khối trường phổ thông hoặc chỉ khảo sát riêng khối trường kinh tế; chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về quy trình quản lý tài chính trường ĐHCL theo hướng tự chủ tài chính toàn diện, chưa thiết lập được hệ thống tiêu chí định lượng đánh giá khả năng tự chủ và chưa kiểm chứng thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tự chủ tài chính của các trường ĐHCL tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 4 nội dung:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về quản lý tài chính các trường ĐHCL, đưa ra quan điểm về quản lý tài chính các trường ĐHCL, đặc biệt là quản lý tài chính theo hướng tự chủ tài chính;
- Thiết lập điều kiện về tự chủ tài chính, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá quản lý tài chính các trường ĐHCL gắn với kết quả đầu ra;
- Đánh giá thực trạng quản lý tài chính các trường ĐHCL Việt Nam giai đoạn 2006–2010;
- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính các trường ĐHCL Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài được đánh số cụ thể như sau:
- Quản lý tài chính trường đại học công lập là gì? (Bao gồm nội dung quản lý tài chính và các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính?);
- Quản lý tài chính các trường đại học công lập tác động như thế nào đến chất lượng đầu ra? Để đánh giá quản lý tài chính cần có những thang đo gì và thang đo nào được kiểm chứng trong hiện tại? Để tự chủ tài chính các trường đại học công lập cần những điều kiện nào? Thực trạng khả năng tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay ra sao?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý Nhà nước về tài chính các trường Đại học công lập ở Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Quản lý nguồn thu, quản lý các khoản chi, quản lý tài sản công và quản lý tài chính theo hướng tự chủ tài chính đối với các trường ĐHCL.
- Phạm vi không gian và mẫu khảo sát: Nghiên cứu thực nghiệm trên mẫu gồm 50 trường ĐHCL thuộc 5 vùng miền kinh tế (Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long) đã thực hiện công bố thông tin "3 công khai" theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; kết hợp khảo sát phỏng vấn sâu 06 trường ĐHCL trên địa bàn Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp và sơ cấp trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân định thành hai nhóm công trình quốc tế và trong nước:
Các nghiên cứu quốc tế:
- Shengliang Deng (Đại học Saskatchewan, Canada) và Yinglou Wang (Đại học Giao thông Tây An, Trung Quốc) năm 1991 với công trình "Quản lý giáo dục ở Trung Quốc: Quá khứ, hiện tại và tương lai": Các tác giả phân tích quá trình cải cách giáo dục khi Trung Quốc chuyển đổi sang kinh tế thị trường, chỉ ra những bất cập về thiếu hụt giáo viên đạt chuẩn, chương trình đào tạo chưa tương thích và cơ sở vật chất thiếu thốn. Nghiên cứu này tiếp cận quản lý giáo dục tổng quát trên nhiều mặt (giáo viên, học sinh, nhà quản lý, tài chính), chưa đi sâu vào cơ chế quản lý tài chính chuyên biệt của trường đại học.
- Estelle James, Elizabeth M. King và Ace Suryadi (Bộ Văn hóa và Giáo dục Jakarta, Indonesia): Công trình "Tài chính, quản lý chi phí giữa các trường công lập và tư thục ở Inđônêxia" tiến hành so sánh hiệu quả chi phí, thu nhập của cán bộ công nhân viên và tỷ lệ việc làm của sinh viên tốt nghiệp giữa trường công lập và tư thục.
- Peter Lorange (2003, Nhà xuất bản Pergamon): Tác phẩm "Cách nhìn mới về quản lý giáo dục - thách thức đối với nhà quản lý" phân tích các lý thuyết kinh tế, văn hóa ứng dụng trong quản trị đại học hiện đại, nhấn mạnh vai trò định hướng thị trường của người lãnh đạo, song chưa xây dựng mô hình quy trình quản lý tài chính hay hệ thống chỉ tiêu phân loại khả năng tự chủ của trường ĐHCL.
Các nghiên cứu trong nước:
- Lê Hùng Sơn (2003): Luận án tiến sĩ "Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tài chính tại hệ thống kho bạc Nhà nước ở Việt Nam" tiếp cận quản lý tài chính theo nghĩa hẹp là quản lý thu – chi.
- Nguyễn Duy Phong: Đề tài "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường phổ thông Hà Nội", tập trung giải quyết cơ chế tài chính khối trường phổ thông trên một địa bàn hẹp.
- Nguyễn Anh Thái (2008, Học viện Tài chính): Luận án tiến sĩ "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường Đại học ở Việt Nam" phân tích cơ chế chính sách tài chính chung, dừng lại ở mức độ nêu vấn đề tạo nguồn, kiểm soát học phí, học bổng nhưng chưa luận giải sâu quy trình quản lý vi mô và tiêu chí tự chủ.
- TS. Nguyễn Công Giáp (Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục): Cuốn sách "Kinh tế học giáo dục" khẳng định tính tất yếu của quản lý giáo dục đối với nâng cao chất lượng đào tạo.
- PGS.TS. Vũ Duy Hào (2005, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân): Đề tài cấp Bộ "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam", phân tích thực trạng cơ chế tài chính khối trường kinh tế và đề xuất thí điểm tự chủ tài chính cho các trường lớn.
- GS.TS. Mai Ngọc Cường (2007, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân): Đề tài cấp Bộ "Điều tra thực trạng và khuyến nghị giải pháp thực hiện tự chủ về tài chính ở các trường Đại học Việt Nam", đánh giá điều kiện tự chủ trên diện rộng nhưng chưa thiết lập hệ số tương quan định lượng và bộ chỉ tiêu phân loại mức độ tự chủ của từng trường.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Luận án khắc phục hạn chế của các công trình đi trước bằng cách kết hợp khung lý thuyết quản lý tài chính hiện đại (lập kế hoạch, tạo nguồn, sử dụng nguồn, kiểm soát) với phân tích định lượng thực chứng; xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến khả năng tự chủ tài chính của 50 trường ĐHCL tại Việt Nam; phân định rõ sự khác biệt giữa quản lý tài chính doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích của luận án dựa trên các nền tảng:
- Hàm sản xuất Cobb-Douglas và lý thuyết tăng trưởng kinh tế: Sử dụng hàm sản xuất $Y = F(T, L, K, N, E)$ thu gọn thành $Y = F(T, L, K)$ và dạng hàm $Q_t = A_t \cdot K_t^\alpha \cdot L_t^\beta$, trong đó $Q_t$ là sản lượng/GDP, $A_t$ là năng suất tổng nhân tố (khoa học công nghệ), $K_t$ là vốn cố định, $L_t$ là lao động, $\alpha$ và $\beta$ là hệ số co giãn.
- Lý thuyết vốn nhân lực: Kế thừa quan điểm của Theodore Schultz (1961), Gary Becker, Jacob Mincer, Milton Friedman và Robert Lucas. Lý thuyết khẳng định tích tụ vốn nhân lực thông qua giáo dục đại học mang lại tỷ suất sinh lợi cao cho cá nhân và xã hội, là nhân tố quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn.
- Lý thuyết kinh tế chính trị về dịch vụ giáo dục: Dựa trên các luận điểm của William Petty (1623–1687), Adam Smith (1723–1790), John Stuart Mill (1806–1873), Karl Marx (1818–1883) và Alfred Marshall (1842–1924). Giáo dục đại học được nhìn nhận là một loại hình dịch vụ đặc biệt; hoạt động giảng dạy là lao động phi sản xuất trực tiếp tạo ra tư bản nhưng tạo ra giá trị sử dụng và được trao đổi dưới hình thái dịch vụ.
- Học thuyết quản lý hành chính của Henri Fayol (1841–1925): 5 chức năng cơ bản của quản lý gồm dự toán/lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp thực hiện và kiểm tra.
- Học thuyết quản lý tài chính của Ezra Solomon: Quản lý tài chính là việc sử dụng thông tin chính xác phản ánh tình trạng tài chính để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, lập kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn lực tài chính, tài sản cố định và nhân lực nhằm gia tăng giá trị cho tổ chức.
- Các lý thuyết bổ trợ: Phân loại 3 hình thức giáo dục của Malcolm Gillis (chính quy, không chính quy, phi chính thức); 3 chức năng giáo dục đại học của Manuel Castells (1991); lý thuyết công bằng xã hội trong phân phối giáo dục của Adelman và Morris (1973).
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Giáo dục 2005; Nghị định 43/2006/NĐ-CP; Nghị định 49/2010/NĐ-CP; Thông tư liên tịch 29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH; Quyết định 1310/QĐ-TTg; Thông tư liên bộ 46/2001/TTLT-BTC-BGDĐT.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng (Mixed-method).
- Phương pháp định tính: Phân tích tài liệu thứ cấp, văn bản thể chế, phân tích tổng hợp lịch sử và phỏng vấn sâu trực tiếp tại 06 trường ĐHCL trên địa bàn Hà Nội.
- Phương pháp định lượng: Thu thập dữ liệu từ báo cáo "3 công khai" của 50 trường ĐHCL trên cả 5 vùng miền; sử dụng phần mềm SPSS để thống kê mô tả, phân tích nhóm và phân tích hồi quy xác định hệ số $\beta$ đánh giá mối tương quan giữa các biến.
Mô hình nghiên cứu định lượng (Mô hình 2):
- Biến phụ thuộc: Khả năng tự chủ tài chính của trường ĐHCL, được đo bằng tỷ lệ: $\text{Thu ngoài NSNN} / \text{Tổng thu}$ và khả năng tự quyết định danh mục, định mức chi.
- Các nhóm biến độc lập:
- Tài sản công hiện có: Diện tích đất sử dụng, diện tích phòng học, thư viện, ký túc xá, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành.
- Đội ngũ giảng viên: Số lượng giảng viên cơ hữu, số lượng và tỷ lệ giảng viên có học vị Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ.
- Thương hiệu trường đại học: Vị thế trường trọng điểm hay không trọng điểm quốc gia, điểm chuẩn tuyển sinh đầu vào các năm 2009–2010.
- Tính chất kinh doanh năng động của người đứng đầu: Số lượng các chương trình đào tạo phi truyền thống (liên kết trong và ngoài nước, chương trình chất lượng cao/tiên tiến, dịch vụ chuyển giao công nghệ).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục đại học và quản lý tài chính trường ĐHCL trong nền kinh tế thị trường:
- Bản chất giáo dục đại học: Là loại hình dịch vụ đặc biệt với các đặc trưng: chi phí đào tạo cao; sản phẩm đầu vào là người học chưa qua đào tạo nghề nghiệp bậc cao; sản phẩm đầu ra là tri thức, kỹ năng, công trình nghiên cứu khoa học; quá trình đào tạo phụ thuộc đồng thời vào năng lực người dạy và nhận thức người học.
- Khái niệm quản lý tài chính trường ĐHCL: Là quá trình tác động có ý thức của Nhà nước tới hệ thống quản trị đại học công thông qua các công cụ quản lý nhằm thực hiện các chức năng từ lập kế hoạch, tổ chức tạo nguồn, phân bổ sử dụng nguồn đến kiểm tra giám sát tài chính.
- Nội dung quản lý tài chính: Gồm quản lý nguồn thu (ngân sách cấp, học phí, lệ phí, thu dịch vụ KHCN, viện trợ, tài trợ); quản lý chi (chi thường xuyên, chi xây dựng cơ bản, chi nghiên cứu khoa học, chi chương trình mục tiêu quốc gia); quản lý tài sản công và quản lý tài chính theo hướng tự chủ.
- Các nhân tố ảnh hưởng: Nhóm nhân tố vĩ mô (chính sách pháp luật, tình hình phát triển KTXH); Nhóm nhân tố vi mô (chiến lược phát triển trường, quy mô và lĩnh vực đào tạo, nhiệm vụ được giao hàng năm, trình độ quản lý của ban giám đốc/hiệu trưởng, tổ chức bộ máy tài chính kế toán, chất lượng đội ngũ giảng viên).
Số liệu và bảng biểu thống kê quan trọng trong Chương 1:
Bảng 1: Tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào giáo dục đại học theo khu vực (Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 1995)
| Khu vực |
Tỷ suất lợi nhuận xã hội (%) |
Tỷ suất lợi nhuận cá nhân (%) |
| Tiểu Sahara Châu Phi |
11,2 |
27,8 |
| Châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi |
10,6 |
21,7 |
| Châu Á |
11,7 |
— |
| Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê |
12,3 |
19,7 |
| Các nước OECD |
8,7 |
12,3 |
Bảng 2: Đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 1991–2000 (Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 1995)
| Chỉ tiêu đóng góp |
1991–1995 (%) |
1996–2000 (%) |
1991–2000 (%) |
| Nhịp độ tăng trưởng GDP |
8,2 |
6,9 |
7,6 |
| - Đóng góp của Lao động |
1,19 |
2,37 |
1,77 |
| - Đóng góp của Tài sản cố định |
3,70 |
2,58 |
3,17 |
| - Đóng góp của Quản lý và yếu tố khác |
1,90 |
0,96 |
1,45 |
| - Đóng góp của Giáo dục và Đào tạo |
0,44 |
0,54 |
0,49 |
| - Đóng góp của Khoa học và Công nghệ |
0,98 |
0,44 |
0,72 |
Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong giai đoạn 2005–2010, chi NSNN cho giáo dục tăng bình quân 27,9%/năm (cao hơn tốc độ tăng tổng chi ngân sách là 22,3%/năm); năm 2010 tỷ trọng chi giáo dục chiếm 5,7% GDP; tốc độ tăng tỷ trọng chi giáo dục trong tổng chi đạt 0,63%/năm nhằm hướng tới mục tiêu 20% tổng chi ngân sách vào năm 2014. Chỉ số HDI của Việt Nam tăng từ 0,456 (hạng 121) lên 0,682 (hạng 101/174 quốc gia).
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
Chương 2 phân tích thực trạng hệ thống trường ĐHCL tại Việt Nam và kết quả xử lý dữ liệu khảo sát:
- Tổng quan hệ thống ĐHCL: Phân bổ mạng lưới theo 5 vùng miền, phân loại theo ngành nghề (kinh tế, kỹ thuật công nghệ, y dược, sư phạm, nông - lâm - ngư) và quy mô sinh viên.
- Thực trạng quản lý thu – chi:
- Cơ cấu nguồn thu: NSNN cấp chiếm tỷ trọng chủ đạo nhưng có xu hướng giảm dần tỷ trọng tương đối; nguồn thu học phí tăng lên nhưng bị khống chế bởi mức trần học phí theo quy định (Nghị định 49/2010/NĐ-CP, TTLT 29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH, Thông tư liên bộ 46/2001/TTLT-BTC-BGDĐT); nguồn thu từ dịch vụ KHCN, chuyển giao công nghệ và hợp tác doanh nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ.
- Quản lý chi: Chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi; chi cho nghiên cứu khoa học còn thấp; định mức phân bổ ngân sách vẫn dựa trên chỉ tiêu số lượng sinh viên đầu vào thay vì chất lượng đầu ra.
- Quản lý tài sản công: Tình trạng sử dụng giảng đường, phòng thí nghiệm chưa tối ưu hóa công suất, quản lý đất đai và tài sản công thiếu quy hoạch dài hạn.
- Phân tích thực nghiệm trên mẫu 50 trường ĐHCL:
- Thống kê mô tả: Tổng hợp các đặc điểm về diện tích đất, phòng học, thư viện, ký túc xá (Bảng 2.31), điểm tuyển sinh đầu vào năm 2009–2010 (Bảng 2.29), số lượng và trình độ giảng viên cơ hữu (Bảng 2.30), tình hình thu chi năm học 2009–2010 (Bảng 2.37).
- Kết quả phân tích hồi quy (Hệ số $\beta$ tại Bảng 2.32): Các trường có điểm chuẩn tuyển sinh cao (thương hiệu tốt), tỷ lệ giảng viên có học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ cao, diện tích cơ sở vật chất lớn và triển khai nhiều loại hình đào tạo đa dạng có tương quan thuận chiều với tỷ lệ thu ngoài ngân sách và mức độ tự chủ tài chính.
- Đánh giá tổng quát:
- Thành tựu: Các trường ĐHCL đã chủ động hơn trong tạo nguồn thu sự nghiệp, bước đầu thực hiện quyền tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, cải thiện thu nhập cho cán bộ, giảng viên.
- Hạn chế và nguyên nhân: Mức độ tự chủ tài chính không đồng đều giữa các nhóm ngành và vùng miền; cơ chế học phí chưa phản ánh đúng giá thành dịch vụ đào tạo; thiếu cơ chế kiểm soát chất lượng đầu ra; bộ máy kế toán tài chính tại nhiều trường chậm đổi mới quy trình hạch toán.
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
Chương 3 đề xuất định hướng và 2 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính trường ĐHCL tại Việt Nam:
Quan điểm định hướng: Chuyển đổi quản lý tài chính từ phương thức cấp phát hành chính sang quản trị tài chính hiện đại; thực hiện tự chủ tài chính gắn liền với trách nhiệm xã hội và công khai minh bạch; phân định rõ giữa chính sách học phí đào tạo theo cơ chế thị trường với chính sách an sinh xã hội đối với người học diện chính sách.
Nhóm giải pháp vĩ mô (Cơ quan quản lý Nhà nước):
- Tăng cường phân cấp tự chủ tài chính cho các trường ĐHCL, xây dựng lộ trình tự chủ phù hợp với từng nhóm trường dựa trên năng lực tài chính và điều kiện cơ sở vật chất;
- Ứng dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá quản lý tài chính gắn với kết quả đầu ra (chất lượng đào tạo, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm, số lượng công bố khoa học) trong việc phân bổ ngân sách nhà nước;
- Hoàn thiện chính sách học phí theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo đối với từng khối ngành; song song đó mở rộng chính sách tín dụng ưu đãi sinh viên và học bổng hỗ trợ người học có hoàn cảnh khó khăn;
- Hoàn thiện công tác quản lý thu và sử dụng nguồn thu học phí;
- Đổi mới cơ chế phân bổ dự toán chi NSNN cho giáo dục đại học theo phương thức đặt hàng đào tạo và tiêu chí kết quả thay vì cào bằng theo quy mô đầu vào;
- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về quản lý tài chính công và tự chủ đơn vị sự nghiệp.
Nhóm giải pháp vi mô (Nội bộ trường ĐHCL):
- Đa dạng hóa các nguồn tài chính: Mở rộng hoạt động dịch vụ KHCN, chuyển giao công nghệ, liên kết đào tạo trong và ngoài nước, khai thác nguồn tài trợ từ cựu sinh viên và doanh nghiệp;
- Nâng cao chất lượng đào tạo làm cơ sở gia tăng các khoản thu hợp pháp ngoài NSNN;
- Ứng dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá quản lý tài chính nội bộ gắn với định mức kinh tế – kỹ thuật và hiệu quả công việc của từng đơn vị trực thuộc;
- Xây dựng mục tiêu chiến lược phát triển hướng tới chuẩn mực khu vực và quốc tế;
- Tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản công, tối ưu hóa công suất khai thác phòng học, phòng thí nghiệm, ký túc xá;
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý tài chính, chuẩn hóa quy trình lập dự toán, quản lý thu - chi và quyết toán tài chính nội bộ;
- Nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ đào tạo, thực hiện nghiêm túc quy chế "3 công khai" (công khai chất lượng đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất - đội ngũ giảng viên, thu chi tài chính);
- Thành lập đơn vị chuyên trách nghiên cứu, tư vấn và hỗ trợ chính sách quản lý tài chính nội bộ trong trường đại học.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính trường ĐHCL dưới góc độ tiếp cận dịch vụ công đặc biệt, làm rõ sự khác biệt căn bản giữa quản lý tài chính doanh nghiệp (quản lý hoạt động mang lại hiệu quả tài chính) và quản lý tài chính trường đại học (quản lý tài chính nhằm phục vụ hiệu quả hoạt động đào tạo và nghiên cứu);
- Phát triển khung phân tích quản lý tài chính trường ĐHCL dựa trên học thuyết quản lý hành chính của Henri Fayol và học thuyết quản lý tài chính của Ezra Solomon;
- Xây dựng mô hình lý thuyết xác định các điều kiện và nhân tố tác động đến khả năng tự chủ tài chính của các trường ĐHCL trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng về quản lý thu, chi, tài sản công và mức độ tự chủ tài chính của 50 trường ĐHCL trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2006–2010;
- Đo lường và kiểm định định lượng ảnh hưởng của các yếu tố tài sản hiện có, trình độ đội ngũ giảng viên, thương hiệu tuyển sinh và năng lực kinh doanh đào tạo tới khả năng tự chủ tài chính;
- Đề xuất hệ thống 14 giải pháp đồng bộ (6 giải pháp vĩ mô và 8 giải pháp vi mô) có căn cứ khoa học, hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước và ban giám hiệu các trường ĐHCL trong việc hoạch định chính sách phân bổ ngân sách, đổi mới cơ chế học phí và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do nguồn lực kinh phí và tính sẵn có của dữ liệu tại thời điểm nghiên cứu, dữ liệu thứ cấp chỉ thu thập được từ báo cáo "3 công khai" trên cổng thông tin điện tử của 50 trường ĐHCL;
- Thang đo tài sản công mới chỉ lượng hóa được các tài sản vật chất hữu hình (diện tích đất, phòng học, phòng thí nghiệm, ký túc xá), chưa đo lường được các tài sản vô hình (giáo trình, bản quyền phát minh, sáng chế) do các trường chưa công khai đầy đủ;
- Thang đo thương hiệu trường đại học mới dựa trên tiêu chí trường trọng điểm và điểm chuẩn tuyển sinh đầu vào, chưa thu thập được dữ liệu định lượng về mức thu nhập và tỷ lệ việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp;
- Khảo sát sơ cấp bằng phỏng vấn sâu mới chỉ thực hiện trên địa bàn 06 trường ĐHCL tại Hà Nội.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát toàn diện mạng lưới các trường ĐHCL trên toàn quốc với chuỗi dữ liệu thời gian dài hơn;
- Bổ sung các thang đo tài sản vô hình và theo dõi phản hồi từ thị trường lao động đối với sinh viên tốt nghiệp;
- Nghiên cứu chuyên sâu cơ chế quản lý tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ gắn với kết quả đầu ra trong trường ĐHCL.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Kinh tế công, Tài chính công, Quản lý kinh tế và Quản lý giáo dục: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp xây dựng hàm sản xuất giáo dục và mô hình định lượng đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới tự chủ tài chính;
- Ban giám hiệu, cán bộ quản lý tài chính - kế toán tại các trường ĐHCL: Tham khảo 8 giải pháp vi mô để xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, hoàn thiện bộ máy quản lý tài chính, khai thác tài sản công và đa dạng hóa nguồn thu sự nghiệp;
- Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tham khảo 6 giải pháp vĩ mô về cơ chế phân bổ dự toán NSNN theo kết quả đầu ra, thiết kế khung học phí linh hoạt và quy chế tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp công lập.
Câu hỏi thường gặp
1. Quản lý tài chính trường đại học công lập được định nghĩa như thế nào trong luận án?
Quản lý tài chính trường đại học công lập là quá trình tác động của Nhà nước tới hệ thống quản trị đại học công (bộ máy quản trị trường) thông qua hệ thống các công cụ của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng cơ bản từ lập kế hoạch tài chính, tổ chức tạo nguồn, sử dụng nguồn tài chính đến kiểm tra, giám sát nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội đề ra.
2. Khả năng tự chủ tài chính của trường ĐHCL trong mô hình nghiên cứu được đo lường bằng chỉ tiêu nào?
Khả năng tự chủ tài chính được đo bằng tỷ lệ: $\text{Thu ngoài NSNN} / \text{Tổng thu}$ của trường và mức độ tự quyết định các danh mục, định mức chi trong phạm vi nguồn thu đó.
3. Bốn nhóm nhân tố vi mô tác động đến tự chủ tài chính trong mô hình định lượng của luận án gồm những gì?
Bốn nhóm nhân tố gồm:
- Tài sản công hiện có (diện tích đất, diện tích phòng học, phòng thí nghiệm, ký túc xá, xưởng thực hành);
- Đội ngũ giảng viên (số lượng giảng viên cơ hữu, số lượng và tỷ lệ giảng viên có học vị GS, TS, ThS);
- Thương hiệu trường đại học (vị thế trường trọng điểm/không trọng điểm, điểm chuẩn tuyển sinh đầu vào 2009–2010);
- Tính chất kinh doanh năng động của người đứng đầu (số lượng các chương trình liên kết trong/ngoài nước, chương trình chất lượng cao, dịch vụ KHCN).
4. Mức đóng góp trung bình của giáo dục và đào tạo vào tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 1991–2000 là bao nhiêu theo số liệu trong luận án?
Theo kết quả phân tích thống kê của Ngân hàng Thế giới (1995) được trích dẫn tại Bảng 1.2 của luận án, mức đóng góp của giáo dục và đào tạo vào tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1991–1995 là 0,44%; giai đoạn 1996–2000 là 0,54%; tính chung toàn thời kỳ 1991–2000 đạt mức đóng góp trung bình là 0,49%.
5. Cơ cấu mẫu nghiên cứu thực nghiệm của đề tài được lựa chọn như thế nào?
Mẫu nghiên cứu thực nghiệm bao gồm 50 trường ĐHCL được chọn đại diện cho các khối ngành đào tạo và phân bổ trên 5 vùng miền cả nước (Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long) dựa trên dữ liệu công khai theo quy định "3 công khai" của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết hợp phỏng vấn sâu tại 06 trường ĐHCL trên địa bàn Hà Nội.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quản lý tài chính các trường Đại học công lập ở Việt Nam" của tác giả Vũ Thị Thanh Thủy đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính và tự chủ tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập. Thông qua việc kết hợp phân tích định tính thể chế với xử lý dữ liệu định lượng trên mẫu 50 trường ĐHCL giai đoạn 2006–2010 bằng phần mềm SPSS, luận án đã làm rõ thực trạng quản lý thu, chi, tài sản công và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tự chủ tài chính. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống 14 giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách, đổi mới chính sách học phí và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính tại các trường đại học công lập Việt Nam.