Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY 1. Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và quản lý sử dụng vốn kinh doanh 1. Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh 1. Khái niệm về vốn kinh doanh Trong kinh tế, vốn kinh doanh được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: - Theo Paul A.Samuelson: Vốn là một trong ba yếu tố đầu vào của quy trình sản xuất.
Vốn được coi là hàng hóa được sản xuất ra và được sử dụng hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó (Paul A. - Theo David Begg: Vốn có hai hình thái chính là vốn hữu hình và vốn tài chính. Trong đó, vốn hữu hình là quá trình dự trữ hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để sản xuất ra các loại hàng hóa khác; vốn tài chính là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp (David K. Begg, Gianluigi Vernasca, 2011).
Có thể thấy đặc điểm chung trong lý thuyết của Paul A.Samuelson và David Begg là vốn được dùng để phục vụ cho hoạt động sản xuất nhằm sản xuất ra các sản phẩm khác. Theo nghĩa hẹp, vốn là tiềm lực về tài chính của mỗi cá nhân, doanh nghiệp, quốc gia. Theo nghĩa rộng, vốn bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực, chất xám, tiền bạc đã tích lũy của mỗi cá nhân, doanh nghiệp hay quốc gia (Trần Nam Trung, 2012). Khái niệm vốn kinh doanh cũng được định nghĩa bởi một số nhà nghiên cứu trong nước như sau: Vốn kinh doanh là toàn bộ giá trị mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận (Bùi Văn Vần, Vũ Văn Ninh, 2013) Theo Nguyễn Đăng Hạc (2001), vốn kinh doanh là tiền và tài sản mà doanh nghiệp sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Dựa trên định nghĩa của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy điểm chung về vốn kinh doanh là số tiền doanh nghiệp có thể bỏ ra để đầu tư cho quá trình sản xuất, hình thành sản phẩm nhằm mục đích thu lại lợi nhuận. Tóm lại, vốn kinh doanh có thể được định nghĩa: là lượng tiền, tài sản mà doanh nghiệp có thể huy động sử dụng cho hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lại lợi nhuận. Đặc điểm của vốn kinh doanh Dựa trên định nghĩa và các lý thuyết, vốn kinh doanh bao gồm những đặc điểm sau: Thứ nhất, vốn kinh doanh đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Vốn được đại diện bởi những vật có giá trị hữu hình: đất, máy móc, nguyên vật liệu sử dụng cho quá trình sản xuất,.hoặc các vật giá trị vô hình như: bằng phát minh sáng chế, chất xám, thông tin, nhãn hiệu.
Tiền tệ, hàng hóa được coi là một dạng vốn kinh doanh khi chúng được đưa vào phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm mục đích sinh lời cho doanh nghiệp. Những tài sản này. Thứ hai, vốn kinh doanh được vận động nhằm mục đích sinh lời. Tiền của doanh nghiệp chỉ được coi là vốn khi nó được đưa vào quá trình sản xuất, kinh doanh và sinh ra lợi nhuận.
Trong quá trình vận động, tiền vốn có thể thay đổi hình thái, biểu hiện. Tuy nhiên điểm cuối cùng của quá trình vận động là số tiền được sinh ra có giá trị lớn hơn so với thời điểm bắt đầu. Thứ ba, để phát huy được tác dụng vốn kinh doanh cần phải được tích tụ và tập trung. Muốn phát huy được tác dụng của vốn thì các doanh nghiệp phải có lượng vốn đủ lớn để đầu tư trang thiết bị, đất, nhà máy, mua sắm nguyên vật liệu.
Do vậy, ngoài những nguồn vốn sẵn có, vốn còn được các doanh nghiệp huy động từ các nguồn khác như: phát hành cổ phiếu, trái phiếu,. Thứ tư, vốn kinh doanh phải được gắn với chủ sở hữu. Vốn sẽ được sử dụng hiệu quả khi nó được gắn với chủ sở hữu nhất định. Tùy theo phương thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể đồng nhất hoặc tách tời.
Tuy nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 dù ở bất cứ trường hợp nào, người sở hữu vốn sẽ được ưu tiên lớn nhất, luôn được đảm bảo quyền lợi khi nắm giữ vốn. Đặc điểm này đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn của các doanh nghiệp. Thứ năm, vốn kinh doanh được gắn với thời gian. Theo nhiều nhà nghiên cứu, vốn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tình hình chính trị, lạm phát.
Do đó, ở mỗi thời điểm khác nhau, vốn có những giá trị khác nhau. Đặc điểm này yêu cầu người sở hữu vốn phải xem xét tới yếu tố thời gian cũng như các yếu tố về kinh tế, chính trị để thực hiện sử dụng vốn cho thật hiệu quả. Thứ sáu, vốn kinh doanh được coi là một loại hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Những người cần vốn đến thị trường huy động vốn, họ sẽ trả một khoản chi phí sử dụng vốn nhất định cho chủ sở hữu nguồn vốn để có được quyền sử dụng vốn.
Có thể thấy, khác với những hàng hóa thông thường, vốn khi bán ra sẽ mất đi quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm, có những chủ thể tạm thời thừa vốn và có những chủ thể khác tạm thời thiếu vốn. Họ có thể gặp nhau trực tiếp để thương lượng, thỏa thuận để hai bên đều có thể đạt được mục tiêu của mình. Vai trò của vốn kinh doanh Về mặt pháp luật, vốn là yếu tố căn bản để các công ty, doanh nghiệp có thể hình thành.
Nó là cơ sở để các doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ về tài chính. Ngoài ra vốn cũng là điều kiện quan trọng để đảm bảo cho sự tồn tại tư cách pháp luật của doanh nghiệp trước pháp luật Về mặt kinh tế, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần có vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó không những đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mà còn phải dùng để cải tiến máy móc thiết bị, hiện đại hoá công nghệ.
Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận. Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không chỉ tồn tại đơn thuần mà còn có sự cạnh tranh gay gắt với nhau. Nếu thiếu vốn sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp, thu nhập thấp, doanh nghiệp sẽ càng tụt lùi.
Bên cạnh đó, mỗi doanh nghiệp có một lượng vốn tương đối thì doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc lựa chọn những phần sản xuất kinh doanh hợp lý, hiệu quả, đảm bảo an toàn tổ chức, hiệu quả vốn nâng cao, huy động tài trợ dễ dàng, khả năng thanh toán đảm bảo, có đủ tiềm lực khắc phục khó khăn và một số rủi ro trong kinh doanh. Vốn kinh doanh là yếu tố quyết định doanh nghiệp nên mở rộng hay thu hẹp phạm vi hoạt động của mình. Thật vậy, khi đồng vốn của doanh nghiệp càng sinh sôi nảy nở, thì doanh nghiệp sẽ mạnh dạn mở rộng phạm vi hoạt động vào các tiềm năng mà trước đó doanh nghiệp chưa có điều kiện thâm nhập và ngược lại khi đồng vốn bị hạn chế thì doanh nghiệp nên tập trung vào một số hoạt động mà doanh nghiệp có lợi thế trên thị trường. Phân loại vốn kinh doanh Căn cứ vào vai trò, đặc điểm của vốn kinh doanh trong sản xuất, vốn kinh daonh có thể được chia thành hai loại vốn chính là: vốn lưu động và vốn cố định.
Vốn lưu động Vốn lưu động dùng trong kinh doanh thương mại, tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh, giá trị của nó có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển hàng hoá. Vốn lưu động luôn luôn biến đổi hình thái từ tiền sang hàng và từ hàng sang tiền. Vốn lưu động chu chuyển nhanh hơn vốn cố định. Vốn lưu động bao gồm vốn dự trữ hàng hoá, vốn bằng tiền và tài sản khác.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, vốn lưu động chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện và vốn lưu động được thu hồi. Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động được chuyển qua nhiều hình thái khác nhau qua từng giai đoạn. Các giai đoạn của vòng tuần hoàn đó luôn đan xen với nhau mà không tách biệt riêng rẽ.
Vì vậy, trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý vốn lưu động có một vai trò quan trọng. Việc quản lý vốn lưu động đòi hỏi phải thường xuyên nắm sát tình hình luân chuyển vốn, kịp thời khắc phục những ách tắc sản xuất, đảm bảo đồng vốn được lưu chuyển liên tục và nhịp nhàng. Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính, sự vận động của vốn lưu động được gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động. Vòng quay của vốn càng được quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm được vốn, giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức của doanh nghiệp.
Do nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại là thực hiện lưu chuyển hàng hoá và thực hiện các hoạt động dịch vụ, vì vậy cơ cấu và tính chất lưu chuyển của vốn khác hẳn so với các đơn vị sản xuất. Trong doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động là khoản vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất khoảng 70 - 80% vốn kinh doanh trong đó bộ phận dự trữ hàng hoá chiếm tỉ lệ cao. Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng. doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu.
phục vụ cho quá trình sản xuất.