CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN NỘI TRÚ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Lý luận dạy học và lý luận quản trị đại học hiện đại đều khẳng định người học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo của một trường Đại học, ngoài việc quản lý hiệu quả các yếu tố người dạy, nội dung, chương trình, cơ sở vật chất. thì không thể không quan tâm đến đối tượng người học.
Xung quanh yếu tố người học có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu, trong đó có vấn đề quản lý người học trong quá trình học tập và sinh hoạt tại các cơ sở nội trú, các ký túc xá. Bộ GD&ĐT đã ban hành các văn bản quy định cụ thể về công tác SVNT trong các trường ĐH, CĐ, trung cấp chuyên nghiệp làm cơ sở pháp lý để các nhà trường triển khai công tác quản lý SVNT một cách có hệ thống. Năm 1997, Bộ GD&ĐT ban hành “Quy chế HSSV nội trú các trường ĐH, CĐ,TCCN” (Quyết định số 2137/GD-ĐT ngày 29/6/1997), quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các trường ĐH, CĐ trong việc tổ chức quản lý khu nội trú; quyền và nghĩa vụ của HSSV trong các khâu liên quan đến việc ăn, ở, học tập, sinh hoạt. trong khuôn viên nội trú của trường.
Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký Quyết định số 41/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 18/10/2002, về việc sửa đổi, bổ sung công tác HSSV nội trú và đã ban hành Thông tư số 27/2011/TT-BGD&ĐT ngày 26/7/2011, về việc ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thay thế cho Quy chế công tác HSSV nội trú trong các trường ĐH, CĐ, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đã ban hành năm 1997. Thông tư này có những điểm mới so với qui định cũ. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý SVNT như: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - “Các biện pháp tăng cường quản lý đời sống sinh viên nội trú Đại học Quốc gia Hà Nội” của Đinh Thị Tuyết Mai, Luận văn Thạc sỹ Khoa học giáo dục, năm 2003, đã đưa ra một số hoạt động đặc thù của SV trong KTX, những yêu cầu và nội dung quản lý đời sống SV trong KTX, đồng thời đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý đời sống SVNT Đại học Quốc gia Hà Nội; - “Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Yên Bái” của Bùi Sĩ Đức, Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, năm 2007 đã đánh giá thực trạng công tác QLSV nội trú của trường Cao đẳng sư phạm Yên Bái và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao biện pháp QLSV nội trú; - “Biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt của SVNT ở trường Cao đẳng Cộng Đồng Bắc Kạn” của Lý Quang Vịnh, Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, năm 2011, cơ sở lý luận đã nêu lên được nội dung công tác quản lý SVNT, đồng thời đề xuất một số biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt của SVNT trường Cao đẳng Cộng Đồng Bắc Kạn; “Biện pháp quản lý học sinh nội trú ở Trường Trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Hải Phòng” của Nguyễn Thị Xuân, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục, năm 2011 đã đánh giá thực trạng công tác quản lý học sinh nội trú tại Trường Trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Hải Phòng và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao công tác quản lý đối với SV nội trú; - “Biện pháp QLSV nội trú ở Trường Cao đẳng sư phạm Hòa Bình” của Nguyễn Thanh Bình, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục, năm 2012 đã đánh giá thực trạng công tác QLSV nội trú của Trường Cao đẳng sư phạm Hòa Bình và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao biện pháp QLSV nội trú,… Tuy nhiên, có thể thấy rằng mỗi trường đại học đều có những đặc thù riêng, sinh viên nói chung và SVNT nói riêng cũng có nhiều đặc điểm rất 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác nhau nên những biện pháp quản lý SVNT cần được đề xuất trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tế của mỗi trường. Vì vậy, việc nghiên cứu cụ thể thực trạng công tác quản lý SVNT ở Trung tâm Hỗ trợ sinh viên - ĐHQGHN với những đặc trưng riêng trong bối cảnh hiện nay là cần thiết để làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý SVNT có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng đào tạo và hoàn thiện hơn sản phẩm đào tạo của ĐHQGHN.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và hoạt động ngày càng phát triển trong xã hội. Những hoạt động tổ chức, chỉ đạo, điều khiển. các hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu chung là những dấu hiệu đầu tiên của quản lý.
Khái niệm quản lý: Khi nghiên cứu về quản lý có nhiều quan điểm tiếp cận và nhiều định nghĩa khác nhau, song Luận văn này, chúng tôi dựa theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [3, tr9]. Như vậy, xét trên phương diện hoạt động của một tổ chức thì quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường diễn ra hoạt động quản lý. Chức năng của quản lý: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về chức năng quản lý, hiện nay có nhiều cách phân chia khác nhau, do quan điểm của từng tác giả.
Tuy nhiên nhìn chung đều thống nhất chung bốn chức năng cơ bản là: - Kế hoạch hóa (planning): Kế hoạch hóa là một chức năng quản lý. Theo nghĩa chung là toàn thể những việc dự định làm gồm những công tác sắp xếp có hệ thống, quy vào một mục đích nhất định và thực hiện trong một thời gian xác định trước. Chức năng này gồm 3 nội dung chủ yếu: + Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức. + Xác định và đảm bảo các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này.
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. Có ba loại kế hoạch: + Kế hoạch chiến lược + Kế hoạch chiến thuật + Kế hoạch tác nghiệp - Tổ chức (Organizing): Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khác nhau. Người quản lý cần lựa chọn cấu trúc cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có. Quá trình đó gọi là thiết kế tổ chức và quan trọng nhất là tổ chức thực hiện kế hoạch để đạt mục tiêu.
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuối việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng. Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ tiếp nối ngay sau các chức năng kế hoạch hóa và tổ chức. - Lãnh đạo - chỉ đạo (Leading): Đó là quá trình tác động của chủ thể quản lý, sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy được hình thành, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân sự được tuyển dụng. Chỉ đạo là quá trình liên kết, tập hợp giữa các thành viên trong tổ chức, động viên khuyến khích họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định từ đó đạt được mục tiêu chung của tổ chức.
- Kiểm tra (controlling): Đó là công việc thu thập thông tin quản lý xem xét đối chiếu, đánh giá các hoạt động của đơn vị và thực hiện các mục tiêu đề ra. Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra: + Xây dựng chuẩn + Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh, đối chiếu với chuẩn + Nếu có sự chênh lệch thì điều chỉnh hoạt động. Trong bốn chức năng của quản lý, chúng luôn đan xen, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình quản lý. Thể hiện qua sơ đồ sau: KẾ HOẠCH KIỂM TRA THÔNG TIN TỔ CHỨC LÃNH ĐẠO 1.
Tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động 1. Tổ chức, bộ máy: Thuật ngữ “tổ chức” để chỉ tập hợp cán bộ, công nhân viên hay một số người tập hợp lại với nhau một cách có ý thức nhằm thực hiện những hoạt động hướng tới đạt được một mục tiêu chung. Các thành viên của đơn vị, tổ chức có giới tính khác nhau, tuổi tác khác nhau nhưng cùng chung một mục đích hoạt động. Tổ chức được cấu thành bởi các thành viên được phân công nhiệm vụ và quan hệ với nhau theo một cơ chế vận hành gọi là tổ chức bộ máy.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mục đích của tổ chức nhằm phục vụ lợi ích của tập thể và xã hội. Trong hoạt động tổ chức chịu sự lãnh đạo từ một trung tâm theo một quy chế chặt chẽ do Nhà nước ban hành. Tổ chức hoạt động - Kết hợp các nỗ lực: Khi các cá nhân cùng tham gia phối hợp những nỗ lực vật chất hay trí tuệ thì nhiều công việc phức tạp có thể đựơc hoàn thành. - Có mục tiêu, mục đích chung: Sự kết hợp sẽ không có hiệu quả nếu những người không nhất trí cùng nhau phấn đấu cho những quyền lợi chung nào đó.
Một mục tiêu chung đem lại cho những thành viên của tổ chức một tiêu điểm để tập hợp nhau lại. - Phân công lao động: Bằng cách phân chia hệ thống các nhiệm vụ phức tạp thành các công việc cụ thể. Phân công lao động tạo điều kiện cho mỗi thành viên chuyên sâu hơn vào một công việc cụ thể.