chương 1 nhưng chưa giải quyết triệt để yếu tố này trong chương 2 và 3, ngoài ra luận văn cũng định hướng được cho GV sử dụng kết quả học tập của HS để điều chỉnh hoạt động dạy học và cũng như các tác giả trên đều không đề cập đến yếu tố phát triển năng lực KT ĐG cho GV. Nhìn chung ba công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý quy trình KT ĐG đã đưa ra một số lý luận về KT ĐG và đề ra các biện pháp quản lý để giải quyết những hạn chế nêu trong phần thực trạng ở địa bàn nhất định. Song, các công trình nghiên cứu này chưa hệ thống toàn diện và rõ một số vấn đề lý luận cơ bản của KT ĐG và quản lý qui trình KT ĐG, thiên nhiều về quản lý hành chính và đặc biệt chưa làm nổi bật về bản chất tích cực của KT ĐG liên quan đến tiến bộ thực sự của người học và vấn đề phải phát triển năng lực sử dụng các kỹ thuật KT ĐG của GV trong lớp học, qua từng bài học giúp người học đạt mục tiêu học tập và phát triển năng lực toàn diện. Tham khảo những nghiên cứu trước và dựa vào các nghiên cứu mới về lý luận và thực tiễn liên quan đến mục đích nghiên cứu của đề tài cũng như chiến lược đổi mới KT ĐG của Bộ GD&ĐT, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu một cách hệ thống về quy trình và quản lý quy trình KT ĐG kết quả học tập và xác định một số biện pháp phù hợp với yêu cầu và điều kiện thực tiễn.
Trên địa bàn huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên chưa có tác giả nào nghiên cứu về Biện pháp quản lý quy trình KT ĐG giá kết quả học tập của HS THCS. Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn rất cần thiết trong công tác KT ĐG giá cấp THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra những giải thích về quản lý.
Tuy nhiên, có một số khái niệm về quản lý mà tác giả cảm thấy tâm đắc nhất đó là: Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [5, tr. Định nghĩa này đã đề cập đến mục tiêu của tổ chức được thực hiện thông qua các chức năng của quản lý. Việc vận dụng các chức năng của quản lý để hoàn thành mục tiêu của tổ chức là một sự định hướng rất có hệ thống, theo đó xác định những công việc mà người quản lý phải làm và họ hải làm công việc đó như thế nào. Hoạt động quản lý không chỉ dừng lại ở việc thực hiện tốt các chức năng của quản lý mà cần phải đảm bảo sự ổn định và luôn đổi mới.
Tác giả Đặng Quốc Bảo cũng đã chỉ rõ yếu tố này trong định nghĩa về quản lý của mình như sau: “Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau; trong đó, “quản” có nghĩa là duy trì và ổn định hệ, “lý” có nghĩa là đổi mới hệ” [2, tr. Cuốn từ điển Giáo dục học coi việc quản lý là sự tác động giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức.“Quản lý là tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) nhằm đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức” [23, tr. Với một môi trường giáo dục luôn biến động như hiện nay, tác giả Đặng Xuân Hải xác định:“Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” [12, tr. Mặc dù có nhiều khái niệm về quản lý, nhưng có thể tóm lại: Quản lý là tác động có định hướng, có mục đích, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và KT nhằm làm cho sự vận hành của tổ chức được ổn định, làm cho nó phát triển đạt được mục tiêu đề ra và luôn đổi mới trong một môi trường luôn biến động.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quy trình và quản lý quy trình Nhận thức về quá trình làm ra một sản phẩm của con người ngày càng tiến bộ, chính từ những kinh nghiệm từ quá trình lao động sản xuất nhiều nhà nghiên cứu đã xây dựng lên những quy trình để thực hiện công việc sao cho sản phẩm/dịch vụ tạo ra có chất lượng ổn định, cải tiến liên tục kết quả thực hiện và tăng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng, bên cạnh đó người tạo ra sản phẩm/dịch vụ mong muốn tốn ít chi phí nhất và tạo ra sản phẩm chất lượng nhất. Nổi bật nhất đó là bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2008, trong bộ tiêu chuẩn này, quy trình được định nghĩa: “Quy trình được dùng để chỉ một ‘cách thức’ hay ‘phương thức’ thực hiện một quá trình/công việc” [27]. Nói đến quy trình là nói đến trình tự của các hoạt động, phương pháp, trách nhiệm và quyền hạn, năng lực cần thiết, thời gian.
Có thể nói Quy trình là một phương thức thực hiện công việc theo một trình tự nhất định nhằm đảm bảo công việc được thực thi một cách hiệu quả nhất để đạt tới mục tiêu. Quản lý quy trình là tác động có định hướng, có mục đích, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm giúp quá trình thực hiện công việc vận hành theo một trình tự nhất định để đạt được mục tiêu đề ra và quy trình đó được cải tiến liên tục trong một môi trường luôn biến động. Kiểm tra Kiểm tra là một trong những chức năng của quy trình quản lý. Trong mọi lĩnh vực từ sản xuất, kinh doanh đến giáo dục thì KT được xem là khâu rất quan trọng, bởi mỗi sản phẩm sau khi hoàn thành nếu không được KT thì những người liên quan đến việc tạo ra sản phẩm sẽ không thể biết sản phẩm của mình làm ra có đảm bảo theo mục tiêu đề ra hay không.
Vì vậy, đưa ra một triết lý về KT cũng là một việc làm hết sức quan trọng. Rất nhiều tác giả đã đưa ra quan điểm về KT, như: Tác giả Nguyễn Đức Chính cho rằng: “Đo lường (kiểm tra) là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng và định tính về các đại lượng đặc trưng của sản phẩm” [8, tr. Với quan điểm này có thể hiểu KT là đo lường và điều chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rằng các mục tiêu và các kế hoạch vạch ra để thực hiện các mục tiêu này đã và đang được hoàn thành. Tác giả Trần Kiều nhận định về mối liên hệ giữa thực tiễn với những nhiệm vụ ĐG, phát huy yếu tố tích cực, hạn chế những sai lệch để hệ thống đạt tới trình độ cao hơn.
“Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn để thực hiện các nhiệm vụ đánh giá thực trạng, khuyến khích các nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch và đưa ra những quyết định điều chỉnh nhằm giúp đối tượng hoàn thành nhiệm vụ và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới một trình độ cao hơn” [13, tr. Hay theo tác giả Nguyễn Công Khanh, thì “Kiểm tra là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu” [13, tr. Từ một số định nghĩa trên, nội hàm khái niệm KT bao gồm: Xác lập các tiêu chuẩn; đo lường kết quả để phát hiện ưu điểm, nhược điểm; đưa ra các giải pháp phù hợp (phát huy ưu điểm, điều chỉnh sai lệch và sửa chữa sai lầm); mục đích của KT là để tổ chức vận hành theo đúng mục tiêu. Tóm lại: KT là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng và định tính về các đại lượng đặc trưng của sản phẩm để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra những quyết định phù hợp kịp thời, giúp đối tượng được KT phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm và hoàn thành tốt mục tiêu góp phần đưa tổ chức đạt tới một trình độ cao hơn.
Đánh giá Có nhiều quan điểm về ĐG nhưng khái niệm của tác giả Nguyễn Đức Chính đầy đủ và thuyết phục hơn cả: “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào. Đánh giá là quá trình thu thập thông tin về năng lực, phẩm chất của một đối tượng và sử dụng thông tin đó để đưa ra những quyết định về đối tượng được đánh giá” [8, tr. Với khái niệm trên, tác giả Nguyễn Đức Chính xác định những yếu tố về năng lực, phẩm chất của một đối tượng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com so với mục tiêu đã đề ra và cuối cùng là đưa ra quyết định về đối tượng được ĐG. Như vậy: ĐG là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm đưa ra nhận định về năng lực và phẩm chất của sản phẩm giáo dục căn cứ vào các thông tin định tính và định lượng.
Trên cơ sở đó đưa ra những phán xét, quyết định về đối tượng được ĐG theo mục tiêu, chuẩn mực và nêu ra những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ đối tượng được ĐG tiến bộ hơn. Có một số loại ĐG: ĐG đầu vào, ĐG chẩn đoán, ĐG tiến trình, ĐG tổng kết. Kết quả học tập Kết quả học tập là cơ sở cho việc ĐG, muốn đưa ra được những ĐG chuẩn xác về đối tượng thì phải có kết quả học tập chính xác, muốn có kết quả học tập chính xác thì phải hiểu thế nào là kết quả học tập?.