Chương 1. Cơ sở lý luận về quan hệ lao động Chương 2. Thực trạng quản lý QHLĐ tại Công ty Cổ phần Prime - Đại Việt Chương 3. Thách thức và một số giải pháp quản lý QHLĐ tại Công ty Cổ phần Prime - Đại Việt trong thời kỳ hội nhập.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUAN HỆ LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và nội dung cơ bản của quản lý quan hệ lao động 1. Quan hệ lao động Khái niệm quan hệ lao động Trong bất cứ xã hội nào con người cũng bị chi phối bởi các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ xã hội là mối quan hệ rất phức tạp, bao gồm: quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, QHLĐ, quan hệ đạo đức, quan hệ tôn giáo.
Nhờ có các mối quan hệ này mà con người mới tồn tại, phát triển như một thực thể, một thành viên trong cộng đồng xã hội. Trong các mối quan hệ đó thì QHLĐ được coi là một trong những quan hệ chủ yếu nhất của con người. Khái niệm về QHLĐ thực sự được quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về QHLĐ.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung: “QHLĐ là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất”. Cách hiểu này được tiếp cận phổ biến trong những năm giữa thế kỷ XX, hệ tư tưởng kinh tế này không thừa nhận sự tồn tại của quan hệ mua bán sức lao động, không có quan hệ chủ - thợ. Do đó, mọi người bình đẳng và làm việc vì lợi ích chung. Năm 1958, nhà kinh tế học người Mỹ J.T Dun lop, trong cuốn “The Industrial Relations” - Cuốn sách đầu tiên về đề tài này, đã viết: “ Có thể coi QHLĐ là một hệ thống có tính logic như một hệ thống kinh tế trong một xã hội công nghiệp”.
Hai giáo sư Grant và Malette ( Trường Đại học tổng hợp Québec tại Montréal) thì cho rằng, QHLĐ là “những mối QHLĐ cá nhân và tập thể giao hòa trong một tổ chức công nghiệp hóa”. Theo Giáo sư Loic Cadin ( Trường Đại học thương mại Paris- ESCP) “ QHLĐ nói tới một tập hợp các quy tắc và chính sách thực tế cấu thành nên các mối quan hệ giữa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người sử dụng lao động và người lao động với sự điều chỉnh và can thiệp về mặt pháp lý của Nhà nước trong một doanh nghiệp, một ngành, một vùng hay một quốc gia”. QHLĐ là một phạm trù có nội hàm rộng, phức tạp, với phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tập trung giới hạn nghiên cứu về QHLĐ ở cấp doanh nghiệp vì vậy khái niệm QHLĐ được tác giả sử dụng trong luận văn này như sau: QHLĐ cấp doanh nghiệp là quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ trong doanh nghiệp, được thiết lập thông qua hệ thống những tương tác giữa NSDLĐ và NLĐ (hoặc tổ chức đại diện cho họ), hệ thống tương tác này thường diễn ra trong suốt quá trình kể từ khi hai bên hợp tác làm việc với nhau để đạt được lợi ích riêng của cá nhân NLĐ, NSDLĐ và mục tiêu chung của doanh nghiệp. Quan hệ này được thiết lập và vận hành trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa về QHLĐ (Industrial Relations) là: “ những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những người lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các đại diện của họ với Nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lý học bao gồm cả những vấn đề như tuyển mộ, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật”. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm trong pháp luật lao động Việt Nam: “QHLĐ là quan hệ làm công ăn lương, quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc đại diện người lao động”. Cụ thể, điều này được thể hiện ngay trong Luật lao động Việt Nam 2012 (Luật số: 10/2012/QH13): - Khoản 6, điều 3: QHLĐ là quan hệ xã hội, phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ.
Khoản 1, điều 7: QHLĐ giữa NLĐ hoặc tập thể NLĐ với NSDLĐ được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Khoản 2, Điều 7: Công đoàn, tổ chức đại diện NSDLĐ tham gia cùng với các cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ. Theo PGS, TS Nguyễn Tiệp, trường Đại học Lao động – Xã hội cho rằng: “ QHLĐ là hệ thống các mối quan hệ giữa các cá nhân hay tổ chức đại diện của người sử dụng lao động hoặc giữa các tổ chức đại diện của họ với Nhà nước và các chủ thể khác. Những mối quan hệ này diễn ra xoay quanh quá trình thuê mướn lao động ( giữa người sử dụng lao động và người lao động) nhằm đảm bảo sự hài hòa và ổn định về lợi ích của các bên liên quan.” QHLĐ trong tổ chức là quan hệ giữa NLĐ, NSDLĐ diễn ra xung quanh quá trình thuê mướn lao động, đảm bảo cho quan hệ đó được thực hiện một cách tối ưu và bảo vệ được lợi ích của các bên trong thị trường lao động.
Quan hệ này có thể diễn ra trước khi người lao động được tuyển chọn vào tổ chức (quan hệ tiền lao động), trong suốt quá trình người lao động làm việc trong tổ chức (quan hệ trong lao động) và diễn ra sau khi người lao động không còn làm việc trong tổ chức nữa (quan hệ sau lao động). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan hệ tiền lao động: được diễn ra trước khi NLĐ vào làm việc trong tổ chức, đây có thể hiểu là mối quan hệ giữa NLĐ mong muốn vào làm việc trong tổ chức với NSDLĐ dự định tuyển lao động. Mối quan hệ này được biểu hiện thông qua hoạt động tuyển mộ, tuyển chọn nhân lực, tiếp đón nhân viên mới, định hướng nhân viên và thử việc. Quan hệ trong lao động: diễn ra trong suốt quá trình NLĐ làm việc trong tổ chức.
Mối quan hệ này liên quan trực tiếp đến các vấn đề sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, các chế độ phúc lợi, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, ôm đau, tai nạn, tuổi cao, tàn tật.Biểu hiện của mối quan hệ này là sự thương lượng, đàm phán và đối thoại giữa các bên. Kết quả của quan hệ này là QHLĐ lành mạnh, không để xảy ra tranh chấp, bất bình. Quan hệ sau lao động: diễn ra sau khi NLĐ không còn làm việc trong tổ chức nữa. Nội dung của quan hệ này được biểu hiện ở việc đảm bảo các chế độ bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tuổi già, bảo hiểm y tế.
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về QHLĐ nhưng có thể hiểu một cách chung nhất: QHLĐ là các mối quan hệ có thể có giữa bất kỳ một cá nhân nào hoặc đại diện của họ trong tổ chức với các cá nhân khác hoặc người đại diện của họ. Đó là mối quan hệ giữa NLĐ với NLĐ, giữa nhân viên với nhà quản lý, giữa các nhà quản lý với nhau. QHLĐ là một trong những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới hiệu suất làm việc của cá nhân cũng như hiệu suất hoạt động, kinh doanh của tổ chức. Chủ thể trong quan hệ lao động Trong bất cứ mối quan hệ nào cũng cần phải có chủ thể, điều đó có nghĩa rằng không thể tồn tại một mối quan hệ nào đó mà không có chủ thể.
Chủ thể 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong QHLĐ là những cá nhân hay tổ chức tham gia vào QHLĐ ở các cấp khác nhau. Có ba chủ thể chính tham gia vào QHLĐ đó là: - NLĐ và tổ chức đại diện của họ (công đoàn, nghiệp đoàn) - NSDLĐ ( giới chủ) và tổ chức đại diện của họ (liên đoàn giới chủ sử dụng lao động.) - Nhà nước Trên phạm vi quốc gia, các chủ thể này còn được gọi là các đối tác xã hội trong QHLĐ. Ngƣời lao động và tổ chức đại diện cho ngƣời lao động - Người lao động NLĐ được hiểu là những người tham gia vào một hợp đồng lao động mà theo đó họ phải thực hiện một công việc nhất định, được cung cấp các phương tiện vật chất cần thiết để làm việc và được nhận một số tiền nhất định theo hợp đồng đã thảo thuận, phù hợp với quy định của pháp luật. Từ góc độ kinh tế học, NLĐ là người trực tiếp cung cấp sức lao động – một yếu tố sản suất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ/ hàng hóa cơ bản của nền kinh tế.
Những người đang lao động là những người có cam kết lao động, có sản phẩm lao động đối với tổ chức, người khác. Trong QHLĐ, NLĐ có vai trò là một chủ thể, là người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất. Đồng thời NLĐ là yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình tạo ra của cải vật chất. NLĐ không chỉ quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng tất cả các nguồn lực mà còn tạo ra những giá trị, của cải xã hội, đặt nền móng cho sự phát triển bền vững trong tương lai.
- Tổ chức đại diện cho người lao động Để thích ứng với yêu cầu mới của công việc trong bối cảnh hiện nay NLĐ phải không ngừng hoàn thiện năng lực của bản thân. Tuy nhiên do sức ép về 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc làm, kèm theo việc không sở hữu tư liệu sản xuất, NLĐ thường ở vị thế yếu hơn so với NSDLĐ. Nếu chỉ dựa vào cá nhân NLĐ thì khó có thể bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình. NLĐ cần phải đoàn kết, tập hợp nhau lại, tạo nên sức mạnh đấu tranh.