Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về lao động tại các doanh nghiệp thuộc Khu công nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm chung 1. Khái niệm, đặc điểm chung về lao động *) Khái niệm về lao động: Khái niệm về lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng suy đến cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con người, là ranh giới để phân biệt con người với con vật.
Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật thể của tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người.Ăngghen toàn tập, 2004, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 23, trang 266): “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.Ăngghen toàn tập, 1994, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 20, trang 277) viết: Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người. Như vậy, có thể nói: Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người.
Thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế. 6 *) Đặc điểm chung của lao động: - Mọi quá trình sản xuất luôn luôn đòi hỏi phải có sự kết hợp của 3 yếu tố: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động, trong đó lao động là yếu tố có vai trò quyết định. - Lao động là yếu tố quyết định thuộc tính giá trị của hàng hóa.
Hai thuộc tính giá trị của hàng hóa là giá trị và giá trị sử dụng. - Trong nền kinh tế thị trường sức lao động - nguồn lực của lao động là một loại hàng hóa đặc biệt. Tính đặc biệt của sức lao động là giá trị sử dụng của nó có thể sản sinh ra hàng hóa có giá trị cao hơn bản thân nó. - Xây dựng và phát triển thị trường sức lao động ở nước ta là một tất yếu khách quan.
Khái niệm doanh nghiệp Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi Xét theo quan điểm chức năng: doanh nghiệp được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được. Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Quốc hội ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Khái niệm Khu công nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ quản lý xã hội và tâm lý từ sử dụng khu công nghiệp (KCN) đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối thế kỷ XIX. Hiện nay có nhiều khái niệm định nghĩa KCN, khái quát lại có thể hiểu KCN theo 2 cách: Thứ nhất: KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, khu thương mại, văn phòng, nhà ở,…Về thực chất mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN Batam (Indonesia), công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu, khu kinh tế mở Chu Lai, Dung Quất ở Việt Nam. Thứ hai: KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập chung các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Mô hình này được xây dựng ở một số nước Malaisia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam.
Như vậy, KCN đều là một khu vực có ranh giới địa lý xác định, có những thuận lợi về tự nhiên xây dựng kết cấu hạ tầng, về xã hội và nhân văn để thu hút, tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, các dịch vụ có liên quan hoạt động theo một cơ chế, chính sách và cơ cấu nhất định nhằm đạt hiệu quả cho từng doanh nghiệp và cả cơ cấu doanh nghiệp trong KCN. Trong thời gian quan, Chính phủ Việt Nam khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào KCN, khu chế xuất, Khu công nghệ cao - gọi chung là KCN. Theo Luật Đầu tư của Việt Nam số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 và theo nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế thì định nghĩa về các KCN, khu chế xuất và khu kinh tế như sau: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. Quản lý nhà nước về lao động tại các doanh nghiệp 1.1 Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước về lao động * Khái niệm về quản lý Theo từ điển Hán Việt (Trần Văn Chánh, 1999, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh), công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”.
Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau.
Quản lý được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau có khái niệm khác nhau, ở đây có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với qui luật khách quan. * Khái niệm quản lý nhà nước về lao động Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ Nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa rộng, 3 chức năng cơ bản của Quản lý nhà nước, đó là: (1) chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; (2) chức năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; (3) chức năng tư pháp do cơ quan tư pháp thực hiện2. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động 2 https://luanvanaz.com/quan-ly-nha-nuoc-la-gi-khai-niem-quan-ly-nha-nuoc.html 9 của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ… Quản lý nhà nước về lao động là sự thể hiện quản lý của nhà nước về lao động thông qua bộ máy nhà nước chủ yếu sử dụng pháp luật tác động có định hướng đến các chủ thể tham gia quan hệ lao động nhằm điều chỉnh và hướng các hành vi của chủ thể này diễn ra phù hợp với lợi ích chung trên cơ sở đảm bảo quyền, lợi ích của các bên khi tham gia. *) Khái niệm quản lý nhà nước về lao động tại các doanh nghiệp Hiện có nhiều quan niệm về “quản lý nhà nước” cũng như về “quản lý nhà nước về lao động tại các doanh nghiệp”: “quản” là sử dụng quyền lực nhà nước, là “cầm chèo”, hỗ trợ.