phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận văn gồm 3 chương: 6 Chƣơng I: NĂNG LỰC VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ THANH TRA VIÊN LAO ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Một số khái niệm: 1. Thanh tra và kiểm tra: 1.
Thanh tra: Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. Theo từ điển pháp luật Anh - Việt, thanh tra là “sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”. Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra“ là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc”. Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2006 “thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [34, tr.
Với nghĩa này, thanh tra bao hàm kiểm tra nhằm “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”. Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta chưa sử dụng thuật ngữ “thanh tra”, hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho một cơ quan chuyên trách nào, mà quyền “kiểm soát” đối với Chính phủ được giao cho Ban Thường vụ của Nghị viện. Hiến pháp năm 1980 đã sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước.
Khoản 15 Điều 107 của Hiến pháp quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ: “tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nước”, Điều 110 quy định: “Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lãnh đạo công tác của Hội đồng Bộ trưởng, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành những quyết định của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng 7 Bộ trưởng”. Về ủy ban nhân dân, Điều 124 quy định: “ủy ban nhân dân các cấp chiểu theo quyền hạn do luật định, ra những quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó”. Đến Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn qua các Điều 112, 115, 116 và 124. Khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”.
Điều 115 quy định: “. Chính phủ ra Nghị quyết, Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Đối với Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ “ ra quyết định, chỉ thị, thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Đối với ủy ban nhân dân, Điều 124 Hiến pháp năm 1992 cũng quy định “ủy ban nhân dân.
ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó”. Từ những phân tích trên có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”. Kiểm tra: Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2006 [27, tr 523] thì “kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”. 8 Tại Từ điển Bách khoa Việt Nam tập II, xuất bản năm 2002 của Nhà Xuất bản Từ điển Bách khoa thì khái niệm kiểm tra được hiểu: “là một chức năng quản lý, một khâu trong quy trình quản lý, có chức năng xem xét tình hình và kết quả thực tế thi hành pháp luật, chính sách chủ trương của nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội được giao” [49, tr.
Như vậy, có thể hiểu rằng: kiểm tra là một sự xem xét thực tế để đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cá nhân nào trong xã hội trong bất cứ một hoạt động nào. Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc cũng có thể là một chủ thể phi nhà nước. Về mặt quản lý chung, kiểm tra là xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của một chương trình công tác đã vạch ra, khả năng thực hiện trong thực tế. Trong quản lý hành chính nhà nước, kiểm tra có mục tiêu là tìm kiếm động cơ, nguyên nhân cán bộ làm tốt hoặc không làm tốt nhiệm vụ được giao.
Trong lĩnh vực tài chính kế toán thì kiểm tra có nhiệm vụ phát hiện những sai lệch giữa giá trị của các thông số thực tế của hệ thống bị quản lý với tiêu chuẩn được dùng làm chỉ tiêu đánh giá như: mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu, kế hoạch, định mức, kinh tế - kỹ thuật, pháp lý. Trong lĩnh vực kinh tế thì kiểm tra không những chỉ phát hiện mà còn phòng ngừa những lệch lạc, sai sót về chế độ tài chính kế toán, về chấp hành các chính sách chế độ khác của nhà nước có liên quan và có ảnh hưởng đến tài chính đồng thời phát hiện những khả năng và nguồn dự trữ mới. Kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới là xem xét việc thực hiện các chủ trương, chính sách đã ban hành, đánh giá đúng tình hình, thấy rõ kết quả, khuyết điểm cần sửa chữa, bên cạnh đó kiểm tra cũng phát hiện đánh giá những ưu điểm cần phát huy. Phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra: Kiểm tra và thanh tra đều là một chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chất “phản hồi” của chu trình quản lý.
Qua thanh tra và kiểm tra người ta có thể phân tích, đánh giá, theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ quản lý đã đề ra. ở đây, quan hệ giữa thanh 9 tra và kiểm tra là quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng”, là mối quan hệ đan chéo nhau. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì kiểm tra bao hàm thanh tra, hay nói cách khác thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra mà ở đó nó luôn luôn do một loại chủ thể là nhà nước tiến hành và luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước, với sự độc lập tương đối. Ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thanh tra cũng bao hàm kiểm tra.
Các hoạt động, các thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra thường chính là kiểm tra. Ví dụ như việc kiểm tra sổ sách, giấy tờ, tài liệu; kiểm tra kho quỹ của đối tượng thanh tra; so sánh, đối chiếu, đánh giá các số liệu thu thập được trong quá trình thanh tra. đó chính là kiểm tra. Sự phân biệt thanh tra và kiểm tra ở đây chủ yếu căn cứ vào mục đích và phương pháp.
Hoạt động thanh tra tác động lên đối tượng bị quản lý; xem xét, kết luận và ở mức độ nào đó được người quản lý ủy quyền xử lý những việc làm sai lệch của đối tượng bị quản lý nhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấp hành nghiêm chỉnh, có hiệu lực, hiệu quả. Kiểm tra là xem xét những sự việc diễn ra có đúng với các quy tắc đã xác lập và các mệnh lệnh về quản lý đã ban ra hay không. Kiểm tra vốn là chức năng của mọi người quản lý, không phân biệt họ làm việc ở cấp bậc nào trong bộ máy quản lý nói chung và trong bộ máy quản lý nhà nước nói riêng. ở các cấp bậc khác nhau thì quy mô và yêu cầu kiểm tra có khác nhau.
Như vậy, kiểm tra là một hoạt động thường xuyên. Do tính chất này mà chúng ta không thể nói là đã có một hệ thống kiểm tra hữu hiệu nếu chỉ có những người lãnh đạo tổ chức và những cán bộ tổ chức chuyên trách tham gia vào hoạt động kiểm tra công việc. Điều quan trọng là phải thiết lập được hệ thống tự kiểm tra và một nề nếp kiểm tra lẫn nhau trong nội bộ tổ chức và giữa hai nhân tố chủ quan và khách quan trong tổ chức hoặc hai nhân tố khác nhau trong cùng một công việc. Thanh tra nhà nƣớc: là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền.
Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Theo quy định của luật thanh tra hệ thống thanh tra nước ta hiện nay bao gồm các cơ quan thanh tra nhà nước và Ban thanh tra nhân dân. Các cơ quan thanh tra nhà nước (Điều 10 luật thanh tra ngày 15/6/2004) bao gồm: Cơ quan thanh tra được lập theo cấp hành chính; cơ quan thanh tra được thành lập ở cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực. Cơ quan thanh tra nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấp trên.
Ban thanh tra nhân dân: Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở xã, phường, thị trấn do ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn hướng dẫn tổ chức, chỉ đạo hoạt động. Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước do ban chấp hành công đoàn cơ sở ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đó hướng dẫn tổ chức, chỉ đạo hoạt động. Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để Ban thanh tra nhân dân thực hiện nhiệm vụ của mình.