Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý QTDH theo HCTC ở bậc đại học Chương 2: Cơ sở thực tiễn về quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học Chương 3: Xây dựng các biện pháp quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay 10. Kết luận và khuyến nghị Đánh giá những kết quả nghiên cứu đạt được và những đề nghị cho nghiên cứu triển khai tiếp theo. Tài liệu tham khảo 10. Phụ lục 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở BẬC ĐẠI HỌC 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới HCTC đã được áp dụng ở Mỹ từ thế kỷ 19 và được triển khai rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Cùng với sự phát triển của phương thức đào tạo này, rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, nhiều cuốn sách về hệ thống tín chỉ học tập và cách thức quản lý đào tạo theo hệ thống này đã được xuất bản. Các nhà nghiên cứu giáo dục ở Mỹ - cái nôi của HCTC là những người đầu tiên nghiên cứu về hệ thống học tập này và cách thức quản lý nó.
James Quann của ĐH Quốc Gia Washington đã định nghĩa các khái niệm Tín chỉ, Giờ tín chỉ, Chuyển đổi giờ tín chỉ… trong tài liệu “The Academic Credit System” (Về hệ thống tín chỉ học tập) [6]. Các định nghĩa này của Quann được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về tín chỉ của các tác giả Việt Nam hiện nay. Trong quá trình triển khai HCTC, việc có những định nghĩa chuẩn xác là rất quan trọng để tạo nên sự thống nhất về các khái niệm trong toàn hệ thống. - Trong tài liệu “The Credibility of the Credit Hour: The History, Use and Shortcomings of the Credits System” [119], tác giả Heffernan James đã trình bày tổng quan về hệ thống tín chỉ với những khái niệm, quá trình triển khai đào tạo, các ưu nhược điểm của hệ thống, những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho sự chuyển đổi thành công và khả năng áp dụng hệ thống tín chỉ trong các nước đang phát triển, một số bài học rút ra từ kinh nghiệm của Mỹ và thế giới về hệ thống tín chỉ.
Công trình này đã phân tích khả năng áp dụng hệ thống tín chỉ học tập mà các nước đang phát triển có thể xem xét điều kiện triển khai nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của các trường ĐH. James cho rằng khi triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ, các nước đang phát triển không nên chấp nhận mô hình của Mỹ một cách dập khuôn mà cần xem xét các yếu tố để xây dựng những kế hoạch thực hiện riêng gắn với điều kiện, hoàn cảnh và văn hoá. Một số yếu tố quan trọng để chuyển đổi thành 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công QTDH theo hệ thống tín chỉ cũng được tác giả đề cập. Trước hết, đó là sự ủng hộ, đồng thuận của xã hội, chính phủ và các thành viên có liên quan trực tiếp đến quá trình đào tạo, sau đó là sự phù hợp các yêu cầu đối với các thành tố của QTDH (Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; Đội ngũ giảng viên; Kiểm tra - đánh giá;…).
- Tác giả Arthur Levin đã nghiên cứu về quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ và văn bằng trong cuốn “The credit and degree” (Tín chỉ và văn bằng). Ông khẳng định rằng có thể tham khảo mô hình Mỹ về đào tạo theo tín chỉ:“Trừ trường hợp ngoại lệ, hiện nay mọi chương trình ĐH dẫn đến văn bằng ở Mỹ được dựa trên hệ thống tín chỉ…” [6, tr. Sau khi hình thành và phát triển ở Mỹ, hệ thống tín chỉ đã lan rộng ra nhiều nước khác trên thế giới. Trong đó phải kể đến các nước ở châu Âu với hơn 40 trường ĐH triển khai hệ thống học tập này.
Từ đó, các nhà khoa học giáo dục của châu lục này cũng đã vào cuộc với các nghiên cứu về hệ thống tín chỉ và các điều kiện triển khai. - Hai nhà khoa học nổi tiếng là Robert Allen & Geoff Layer đã có công trình nghiên cứu: “Credit - Based Systems as Vehicles for Change in Universities and Colleges” (Hệ thống tín chỉ là phương tiện thay đổi trong các trường ĐH và cao đẳng) [123]. Các tác giả khẳng định sự phát triển của GDĐH đại chúng là một thách thức đối với các nhà quản lý và nhu cầu tất yếu phải có sự thay đổi trong hệ thống GDĐH. Hiện nay, quá trình dạy học theo hệ thống tín chỉ của rất nhiều trường ĐH ở Mỹ, Anh, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaisia, Nigeria, Uganda, Trung Quốc, Thái Lan.
đã đi vào nề nếp. Tuy nhiên, các nhà khoa học giáo dục vẫn không ngừng nghiên cứu về hệ thống học tập này nhằm ngày càng cải thiện chất lượng giáo dục cũng như cách thức quản lý để phát huy các mặt tích cực của quá trình đào tạo và phù hợp với sự phát triển của xã hội. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, triển khai đào tạo theo HCTC trong các trường ĐH là một vấn đề đã được đề cập cách đây trên 20 năm nhưng gặp rất nhiều lúng túng trong cả khâu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý và triển khai. Ngay từ năm 1988, theo chủ trương của Bộ GD & ĐT, một số trường ĐH đã áp dụng học chế mềm dẻo: kết hợp niên chế với học phần (Đơn vị học trình).
Trong giai đoạn 1993-1998 các tác giả ở Vụ ĐH mà đứng đầu nhóm nghiên cứu là các nhà khoa học Lâm Quang Thiệp (Vụ trưởng Vụ ĐH) và Lê Viết Khuyến (Vụ phó Vụ ĐH) đã có nhiều bài nghiên cứu về quản lý đào tạo khi chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ. Gần đây, vấn đề này đã được nêu trong các văn bản, quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT và ngày càng thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu giáo dục, các cấp lãnh đạo nhà trường, đội ngũ GV, SV và các tổ chức xã hội sử dụng sản phẩm giáo dục. Nhiều vấn đề về quản lý đào tạo theo HCTC và quá trình chuyển đổi sang học chế này đã được các nhà KHGD nghiên cứu. * Về tài liệu, phải kể đến cuốn sách rất có giá trị là “Về hệ thống tín chỉ học tập” của Vụ ĐH - Bộ GD & ĐT, xuất bản năm 1994.
Công trình này tuyển dịch bốn tài liệu của nước ngoài về hệ thống tín chỉ với những kiến thức rất cơ bản kèm theo nhiều tài liệu tham khảo được giới thiệu đã thực sự cần thiết với các trường ĐH ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ học chế niên chế sang HCTC và các kinh nghiệm quản lý đào tạo theo tín chỉ của một số nước. * Cùng với việc biên soạn và phát hành các tài liệu trên, Bộ GD&ĐT và một số trường ĐH đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo với các ý kiến đóng góp của các chuyên gia giáo dục bàn về vấn đề này. Nhiều hội thảo tập trung bàn về các vấn đề lý luận và các quan điểm mới trong việc thiết kế chương trình đào tạo theo tín chỉ của kỷ nguyên công nghệ; Vai trò của Internet trong giảng dạy và học tập [63, 64]. Một số hội thảo đi sâu vào phân tích các yếu tố quan trọng để thực hiện thành công HCTC; Phân tích cơ hội và thách thức của hệ thống chuyển đổi từ niên chế sang HCTC; Nhận diện các xung đột hệ thống khi triển khai HCTC trong điều kiện của Việt Nam và cách thức khắc phục chúng…; Nghiên cứu các phương pháp sư phạm đặc thù và các hình thức tổ chức dạy học hiệu quả trong HCTC [33 - 35].
Trong các diễn đàn khoa học này, nhiều nhà khoa học đã có các tham luận khá được chú ý. Những kinh nghiệm triển khai đào tạo theo HCTC của một số nước trên thế 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới cũng được một số tác giả tổng kết. Hai tác giả Eli Mazur & Phạm Thị Ly đề cập đến vai trò của hệ thống tín chỉ của Mỹ trong GDĐH Việt Nam và kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ. Tác giả Nguyễn Kim Dzung đưa ra một số kinh nghiệm của thế giới trong việc xây dựng và phát triển hệ thống tín chỉ học tập.
Hai mô hình phổ biến là: Hệ thống Tín chỉ của Hoa Kỳ và Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ của Châu Âu cũng được tác giả phân tích với các chức năng và ưu điểm của chúng cũng như đặc thù triển khai và cách thức quản lý, vận hành. Một số tác giả đã nghiên cứu và khái quát các đặc điểm về hệ thống tín chỉ và cách thức tổ chức đào tạo ĐH theo phương thức này trong các nước của Liên minh châu Âu và châu Á như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc. Đặc biệt, một số thực tiễn và bài học kinh nghiệm của các trường đã và đang chuyển sang HCTC cũng được các nhà quản lý và GV chia sẻ trong hội thảo như Trường ĐH Bách khoa Tp Hồ Chí Minh, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia Hà Nội, Trường ĐH Đà Lạt, ĐH Phương Đông, ĐH Cần Thơ. Ban liên lạc các trường đại học, cao đẳng Việt Nam liên tục tổ chức hội thảo khoa học về “Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhận thức và kinh nghiệm triển khai tại các trường đại học, cao đẳng Việt Nam” và “Đổi mới phương pháp dạy và học trong đào tạo theo HCTC và Xây dựng hệ thống thông tin quản lý đào tạo” vào năm 2006, 2007 với sự tham gia của nhiều nhà khoa học trong các viện nghiên cứu, trường ĐH ở Hà Nội, Nghệ An, Nha Trang, Đà lạt, Tp.
HCM, Bình Dương, Cửu Long…[3, 4]. Các hội thảo này thu hút sự tham gia của nhiều nhà quản lý và giảng viên với nhiều bài tham luận, báo cáo có giá trị thực tiễn cao. Đây là diễn đàn khoa học để đội ngũ quản lý nhà trường và giảng viên trao đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao nhận thức về một phương thức học tập mới. * Để có những qui định chung, làm cơ sở để các trường ĐH chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo HCTC, Bộ GD & ĐT đã nghiên cứu và đưa ra các qui chế về phương thức đào tạo này.
- Ngày 26/6/2006, Bộ GD&ĐT đã ban hành qui chế 25/2006/QĐ-BGD&ĐT để hướng dẫn quản lý đào tạo trong giai đoạn chuyển đổi dần sang HCTC [10]. Qui 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.