PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO - World Trade Organization) là cơ hội để Việt Nam thu hút đầu tư và mở rộng thị trường. Song toàn cầu hóa đưa đến sự cạnh tranh trong và ngoài nước ngày càng gay gắt trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế; đồng thời cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao cũng diễn ra mạnh mẽ hơn trên bình diện thế giới, khu vực và quốc gia. Việc mở ra khả năng di chuyển lao động giữa các nước ASEAN vào năm 2015 đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề cao, có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế với những tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác định.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, người lao động phải có kỹ năng nghề giỏi, điều đó sẽ giúp họ tăng năng suất lao động. Nhưng để có kỹ năng nghề giỏi người lao động không chỉ qua đào tạo theo nghĩa thông thường mà phải đào tạo có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, nhất là những đòi hỏi của sự phát triển khoa học công nghệ. Do vậy nâng cao chất lượng đào tạo sẽ là đột phá quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI chỉ rõ: “Chất lượng GD&ĐT chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội.
Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [5, tr 18] Nghị quyết 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT” tại Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.” [6] Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020, quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục được trình bày có đoạn: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”. [2] Ngày nay, chất lượng cuộc sống được nâng cao nên nhu cầu về ăn và mặc ngày càng được nâng cao. Chính vì vậy mà nhu cầu về nhân lực của ngành Kinh tế gia đình ở nước ta hiện nay là rất lớn.
Tuy nhiên, do sản phẩm đào tạo của nhà trường chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động nên phần lớn số lượng sinh viên ra trường rất khó kiếm được việc làm phù hợp. Đây là một thách thức lớn, đồng thời cũng là động lực để nhà trường phải chủ động tìm các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Trước tình trạng nguồn nhân lực ngành KTGĐ đang dư thừa về số lượng nhưng lại thiếu về chất lượng như hiện nay và bản thân người nghiên cứu từng là sinh viên ngành Kinh tế gia đình nên nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết cần được giải quyết. Hơn nữa, trong quá trình tìm kiếm tài liệu, người nghiên cứu chưa thấy đề tài nào nghiên cứu về đào tạo theo tiếp cận kỹ năng nghề cho sinh viên ngành Kinh tế gia đình nên người nghiên cứu chọn đề tài “Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ngành Kinh tế Gia đình theo tiếp cận kỹ năng nghề tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn đóng góp các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ngành Kinh tế Gia đình đáp ứng yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ngành KTGĐ theo tiếp cận kỹ năng nghề tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU: Đối tƣợng nghiên cứu: chất lượng đào tạo ngành Kinh tế gia đình theo tiếp cận kỹ năng nghề tại trường ĐH SPKT Tp. Khách thể nghiên cứu: - Quá trình đào tạo ngành KTGĐ của Trường ĐH SPKT Tp. - Tiêu chuẩn kỹ năng nghề chế biến món ăn.
- Giảng viên và sinh viên ngành Kinh tế gia đình. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: Để đề xuất được các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ngành Kinh tế gia đình theo tiếp cận kỹ năng nghề tại trường ĐH SPKT Tp.HCM, người nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu cơ sở lý luận về đào tạo theo tiếp cận kỹ năng nghề. - Khảo sát thực trạng về đào tạo ngành Kinh tế gia đình theo tiếp cận kỹ năng nghề tại trường ĐH SPKT Tp. - Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ngành Kinh tế gia đình theo tiếp cận kỹ năng nghề tại trường ĐH SPKT Tp.
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU: Hiện nay sinh viên ngành Kinh tế gia đình Trường ĐH SPKT Tp.HCM đang yếu về kỹ năng nghề. Nếu áp dụng các giải pháp đào tạo theo tiếp cận kỹ năng nghề thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngành Kinh tế gia đình. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI: Do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn nên người nghiên cứu chỉ tiến hành khảo sát thực trạng kỹ năng nghề chế biến món ăn của SV tốt nghiệp ngành Kinh tế gia đình các khóa 2008 -2012; khóa 2009- 2013; khóa 2010-2014 và SV năm cuối ngành Kinh tế gia đình. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên, người nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục sau: 7.1 Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: - Tham khảo các nguồn tài liệu nhằm phân tích, chọn lọc các vấn đề lý luận liên quan đến kỹ năng nghề.
Từ đó, vận dụng vào đề tài cho hợp lý và làm sáng tỏ được cơ sở lý luận của đề tài. - Tham khảo công văn, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, …để xác định cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và vấn đề cấp bách cần giải quyết có liên quan đến đề tài. - Tham khảo các công trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu có liên quan đến kỹ năng nghề.2 Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn: 7.1 Phƣơng pháp khảo sát, điều tra: Dùng phiếu khảo sát để thu thập ý kiến đánh giá của SV năm cuối và cựu SV ngành KTGĐ trường Đại học Sư phạm Kỹ Thuật Tp Hồ Chí Minh về thực trạng đào tạo ngành KTGĐ như CTĐT, CSVC; PPDH và kiểm tra đánh giá của GV; lý do chọn ngành và hứng thú nghề nghiệp của SV; cũng như khảo sát về mức độ đáp ứng về kiến thức, kỹ năng thực hành đối với nhu cầu công việc của cựu SV.2 Phƣơng pháp chuyên gia: thực hiện thông qua phiếu thăm dò và trao đổi trực tiếp, tổng hợp các ý kiến chuyên gia để hoàn thiện đề tài nghiên cứu; đánh giá giải pháp.3 Phƣơng pháp phỏng vấn: - Gặp gỡ trực tiếp giảng viên đang giảng dạy tại trường xin ý kiến về CTĐT và những vấn đề liên quan đến nâng cao CLĐT. - Trao đổi, trò chuyện với cán bộ quản lý của các doanh nghiệp có sử dụng lao động là SV tốt nghiệp ngành KTGĐ về tiêu chuẩn DN dùng để đánh giá KNN của lao động; mức độ hài lòng của DN đối với SV; nhận x t về KNN của SV; sự đáp ứng về kỹ năng thực hành của SV so với yêu cầu thực tế; xin ý về giải pháp nâng cao KNN cho SV.3 Phƣơng pháp xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý số liệu sau khi khảo sát sinh viên.
PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO THEO TIẾP CẬN KỸ NĂNG NGHỀ 1.1 LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 1.1 Trên thế giới: Năm 1990 nhiều ngành công nghiệp và thương mại cũng bắt đầu áp dụng chuẩn kỹ năng nghề và chương trình đào tạo như: hóa chất, thực phẩm, điện, điện tử,… Từ năm 1991 các nước Nhật, Malaysia, Đức, Canada, Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales,…cũng phát triển tiếp cận chuẩn kỹ năng nghề. Từ năm 1992 - 1996 các dự án xây dựng phát triển kỹ năng nghề ở Mỹ, các dự án này nhấn mạnh những điều mà người lao động phải biết và có thể làm, có chất lượng từ mức độ nghề khởi đầu đến mức độ chuyên gia ở các bộ phận khác nhau của các nghề. Các chuẩn kỹ năng nghề sẽ được sử dụng do chính người lao động, người sử dụng lao động và nhà giáo dục có thể dùng làm mục tiêu đào tạo, đánh giá các kỹ năng của người học và sự thành công của chương trình huấn luyện hay đào tạo. Năm 1998 chuẩn kỹ năng nghề phát triển trên toàn nước Mỹ và cũng đã thành lập hai hệ thống tổ chức quản lý chuẩn kỹ năng nghề: NIMS (National Institute for Mtalworking Standards) và MSSC (Manufacturing Skill Standards Council).
Ở Hàn Quốc, mục tiêu giáo dục là phát triển năng lực tư duy, năng lực tự học, tìm hiểu về khoa học kỹ năng giải quyết vấn đề, sự sáng tạo nghề nghiệp và nâng cao tinh thần dân tộc cũng như tính tập thể. Ở Thái Lan, mục tiêu giáo dục là cung cấp cho người học những kiến thức văn hóa và nghề nghiệp thích ứng với lứa tuổi, nhu cầu, lợi ích và năng lực người học được chọn nghề phù hợp cho bản thân trong tương lai. Ở Singapore, đã chính thức bắt đầu hệ thống công nhận KNN quốc gia (NSRS) vào năm 2000 với một khung trình độ quốc gia có 3 bậc, chú trọng năng lực công việc và chứng nhận kỹ năng thực tế đạt được. Cơ quan phát triển lực lượng lao động phối hợp với các tổ chức kinh tế để xúc tiến việc nâng cao tiềm năng con người, có mục tiêu nâng cao việc làm và tính cạnh tranh cho các người làm công và những người tìm việc bằng một chương trình GD&ĐT liên lục phát triển một cách toàn diện năng lực cơ bản cho người trưởng thành.
Tổ chức này cũng đang phát triển một hệ thống chứng nhận cho GV và các tiêu chuẩn quốc gia về kiểm định GV nhằm cải thiện sự đảm bảo chất lượng.