CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Khái quát nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Thương tích ở trẻ em là một vấn đề y tế công cộng ngày càng phát triển trên phạm vi toàn cầu. Đây là một lĩnh vực đáng lo ngại cho trẻ từ khi một tuổi, liên tục góp phần vào tỷ lệ tử vong chung cho đến khi trẻ em đến tuổi trưởng thành.
Mỗi năm có đến hàng trăm nghìn trẻ em tử vong vì thương tích hoặc bạo lực, và hàng triệu trẻ em khác phải chịu hậu quả của các thương tích không gây tử vong. Thương tích là nguyên nhân chính gây tử vong và tàn tật ở trẻ em. Trong Báo cáo Thế giới về phòng chống thương tích ở trẻ em từ WHO & UNICEF, có khoảng 950.000 ca tử vong ở trẻ em và thanh niên dưới 18 tuổi mỗi năm, trong đó, tai nạn thương tích không chủ ý chiếm khoảng 90%, đa phần xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình (95%). Hàng năm, trên thế giới có hơn một triệu trẻ em từ 14 tuổi trở xuống tử vong do chấn thương không chủ ý.
Có đến 98% số ca tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp; trong đó, khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương chiếm gần 55% số ca tử vong do thương tích ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 20 tuổi. Các nguyên nhân chính gây thương tích ở trẻ em trong khu vực gồm đuối nước, tai nạn giao thông, bỏng, ngã, ngộ độc và thương tích cố ý [31]. Theo điều tra cộng đồng tại Nam Á và Đông Á cho thấy nguyên nhân chủ yếu của tử vong do thương tích ở trẻ dưới 1 tuổi là ngạt thở, ở trẻ dưới 5 tuổi là đuối nước [29]. Ước tính trong giai đoạn 2006-2015, số tử vong hàng năm ở trẻ em do TNTT trên toàn thế giới lên đến 875.000 trẻ, tương đương trung bình 40 8 tửvong/100.
Nghiên cứu của Michael Linnan và các cộng sự cho thấy tỷ lệ trẻ tử vong do TNTT ở các nước phát triển là 135/100.000 trẻ, thấp hơn so với tỷ lệ này ở các nước Đông Á (hơn1. Thực tế, nếu tập hợp đầy đủ số liệu của tất cả các quốc gia, con số tử vong còn có thể lớn hơn nhiều lần so với ước lượng này. Các TNTT không chủ ý là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tửvong, nhập viện và thương tật trên toàn thế giới. Hàng chục triệu ca TNTT ởtrẻ em đòi hỏi phải được chăm sóc tại các cơ sở y tế và nhiều trẻ bịtàn tật suốt đời do TNTT.
Với mỗi trường hợp tử vong do TNTT ở trẻ dưới 18tuổi, thì có 12 trẻ phải nhập viện hoặc để lại khuyết tật vĩnh viễn và 34 trẻ cầnchăm sóc y tế hoặc phải nghỉ học do TNTT [15], [13], [30]. Thụy Điển là nước đầu tiên công nhận tầm quan trọng của thương tích như một mối đe dọa đối với sức khỏe trẻ em và giải quyết vấn đề này bằng một phương pháp điều phối. Vào những năm 1950, Thụy Điển có tỉ lệ tử vong do thương tích ở trẻ em cao hơn so với Mĩ. Vì vậy, từ cuối thập kỉ 80, quốc gia này có tỉ lệ tử vong do thương tích ở trẻ em thấp nhất thế giới.
Để chống TNTT, quốc gia này đã thực hiện các quy định và pháp chế cho môi trường an toàn hơn cho trẻ em và thực hiện chiến dịch giáo dục an toàn rộng khắp cùng với sự hợp tác của các cơ quan khác nhau, ý thức trách nhiệm hợp tác ở Thụy Điển đã giúp nhiều trong việc bảo vệ sự an toàn của trẻ em. Tại Australia, đuối nước vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do thương tích không chủ ý ở trẻ em từ 1-3 tuổi. Vì vậy, quốc gia này đã quy định học bơi là bắt buộc nhằm giảm sự đuối nước của trẻ em. Hiện nay, hàng trăm câu lạc bộ bơi được mở rộng tại các khu đô thị và nông thôn, tạo điều kiện để trẻ em nâng cao kỹ năng an toàn với nước.
Với các chương trình kĩ năng chống đuối nước, chiến lược nâng cao nhận thức cộng đồng và can thiệp pháp lí, tỉ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em Australia tiếp tục giảm. Đặc biệt, đại dịch Covid-19 bùng phát tại nhiều quốc gia trên thế giới đã 9 và đang làm cho thách thức đảm bảo an toàn cho trẻ ngày một lớn hơn bao giờ hết. Không gian sống của mỗi gia đình đều tiềm ẩn nhiều nguy cơ an toàn cho trẻ, nay lại càng nguy hiểm hơn. Nếu phụ huynh không lưu tâm, trẻ có thể gặp những sự cố không an toàn bất kỳ lúc nào.
Các nghiên cứu trong nước Dự án "Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em" do UNICEF tài trợ được triển khai từ năm 2002 - 2005 nhằm giảm tỉ lệ tai nạn thương tích giai đoạn 2002-2010 và giảm 25% số tử vong trẻ em do các loại tai nạn thương tích gây nên. Dự án được thực hiện tại 6 tỉnh: Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đồng Tháp và Cần Thơ. Trong năm 2004, những hoạt động của dự án tiếp tục được triển khai và mở rộng địa bàn tại 72 xã của 18 huyện của các tỉnh dự án. Mục tiêu ưu tiên thực hiện trong năm 2004 là tăng cường cải thiện môi trường, áp dụng những mô hình và chuẩn mực an toàn tại nhà trường, gia đình và cộng đồng được xây dựng trong năm 2003 nhằm đảm bảo môi trường sống và học tập an toàn cho trẻ em tại địa bàn dự án.
Ngoài ra để nâng cao nhận thức phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em, dự án đặc biệt quan tâm hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông đến mọi tầng lớp nhân dân, nhất là người chăm sóc trẻ và trẻ em. Hoạt động truyền thông còn được mở rộng cho 15 tỉnh khác trên toàn quốc không thuộc dự án. Mục đích của cuộc điều tra là xác định tỷ suất thương tích ở trẻ em; mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến thương tích và tử vong; đánh giá hậu quả do thương tích gây ra cho trẻ em. Kết quả điều tra cho thấy tỷ suất thương tích không gây tử vong cho trẻ em của 6 tỉnh là 4360/1000.000; năm nguyên nhân gây thương tích không tử vong thường gặp là ngã, thương tích do giao thông, thương tích do động/súc vật tấn công, thương tích do vật sắc nhọn và thương tích do bỏng.
Tỷ suất thương tích gây tử vong hay gặp là đuối nước, thương tích do giao thông và ngã. Hậu quả thường gặp do thương tích là các vết cắt/trầy xước (63%), gãy xương (12%) và bỏng (9%). Phần lớn các thương tích ở trẻ em là 10 nhẹ và không để lại di chứng. Điều tra cũng đề xuất một số khuyến nghị nhằm lập kế hoạch làm giảm tỷ lệ thương tích ở trẻ như xây dựng ngôi nhà an toàn, trường học an toàn và cộng đồng an toàn, đồng thời nâng cao năng lực, cung cấp các trang thiết bị và nâng cao khả năng điều trị cho các cơ sở y tế [12].
Tại Việt Nam, thống kê của Cục Quản lý môi trường y tế cho thấy mỗi năm trung bình có hơn 370.000 trẻ bị TNTT, trong đó nhóm 15-19 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (43%), tiếp đến nhóm tuổi 5-14 (36,9%), thấp nhất là nhóm tuổi 0-4 chiếm 19,5%. Số trẻ em tử vong do TNTT là 6.600 trường hợp một năm chiếm tỷ lệ 35,5% trong tổng số trẻ tử vong trong toàn quốc do tất cả các nguyên nhân.000 trẻ có 24 trẻ tử vong do TNTT hay tương đương 18 trẻ em tử vong do TNTT mỗi ngày. Các em trai có xu hướng bị thương tích thường xuyên hơn và nghiêm trọng hơn so với các em gái. Tỷ lệ tử vong ở nam giới cao hơn 3 lần so với nữ giới [16], [14], [15].
Tô Thị Phương Thảo và cộng sự (2019) cho thấy mô hình tử vong do TNTT ở trẻ em nữ và nữ vị thành niên 0-19 tuổi tương đồng với mô hình TNTT ở nữ giới chung.808 trường hợp tử vong do TNTT trong năm 2016. Khác với ở nhóm phụ nữ chung, trong nhóm nữ trẻ em và vị thành niên 0-19 tuổi, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu với tỷ suất 5,99/100.000 nữ, TNGT xếp thứ 2 (2.000 người), tiếp theo là tự tử(1,60/100.000 nữ), hóc dị vật và ngạt (0,5/100. Tỷ suất tử vong do TNTT ở trẻ nữ từ 0-4 tuổi là 24,81/100.000 nữ, thấp nhất ở nhóm 5-14 tuổi là 19,11/100.000 nữ và cao nhất ở nhóm 15-19 tuổi là 54,46/100. Vùng Tây Nguyên (25,63/100.000), vùng Trung du và miền núi phía Bắc (26,66/100.000), vùng Bắc Trung Bộ (13,21/100.000) có tỷ suất tử vong do TNTT cao nhất trong nhóm nữ trẻ em và vị thành niên [23].
Việc đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non là nhiệm vụ quan trọng trong công tác nuôi dạy trẻ ở trường mầm non. Đề tài này cũng thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong nước tham gia như: 11 Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (2015), đã thực hiện nghiên cứu về “Quản lý hoạt động phòng tránh tai nan thương tích cho trẻ trong trường mầm non Sơn Ca 10 quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chi Minh”. Nghiên cứu của tác giả đã xây dựng được cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng tránh tai nan thương tích cho trẻ trong trường mầm non, khảo sát, phân tích và chỉ ra được thực trạng quản lý hoạt động phòng tránh tai nan thương tích cho trẻ trong trường mầm non Sơn Ca 10 quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Đánh giá được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế của thực trạng quản lý hoạt động này.
Từ đó đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non Sơn Ca 10 quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chi Minh phù hợp và hiệu quả hơn. Tác giả đưa ra các biện pháp như: Tăng cường sử dụng các nguồn lực như tài chính, cơ sở vật chất, giáo viên…; Tăng cường quản lý hoạt động giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của trẻ về kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích; Kế hoạch hóa hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích…[24].