phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về PTĐN giáo viên THCS theo Chuẩn nghề nghiệp; 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Thực trạng quản lý PTĐN giáo viên các trường THCS huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc; Chƣơng 3: Biện pháp quản lý PTĐN giáo viên THCS huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc theo Chuẩn nghề nghiệp; 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề Nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu đến các vấn đề quản lý ĐNGV trên cơ sở lý luận và thực tiễn dưới góc độ quản lý vĩ mô và vi mô. Nhiều hội thảo khoa học về quản lý ĐNGV đã được thực hiện dưới sự quản lý giáo dục theo ngành, bậc học.
Nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết được ứng dụng trong các nhà trường và các cơ sở giáo dục. Có thể kể đến một số nghiên cứu loại này của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Gia Quý, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Văn Lê, Phạm Viết Vượng… Trong những năm gần đây, nhiều luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục, trong đó có vấn đề quản lý ĐNGV. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề quản lý ĐNGV theo bậc học và ngành học, vùng miền khác nhau. Có thể kể đến các tác giả Nguyễn Thị Lan với “Những biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng sứ phạm Nhạc - Hoạ trung ương”, Phan Văn An với đề tài “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trong các trường Trung cấp nghề thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Nguyễn Hồng Sơn với đề tài “Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường tiểu học Lục Nam tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học hiện nay” …Với cấp học THPT đã có một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này, trong đó có: - Phạm Hồng Dương với “Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiệu trưởng trường THPT Tây Sơn, huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang.”; - Nguyễn Đức Cường với “Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay.”; - Trần Văn Hưởng với “Biện pháp quản lý độ ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay.” - … Cho đến nay chưa có một tác giả, một đề tài nào nghiên cứu đầy đủ khoa học về công tác quản lý ĐNGV ở các trường THCS huyện Lập Thạch trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay.
Một số khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ 1. Quản lý phát triển đội ngũ 1. Quản lý và chức năng cơ bản của quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992, thuật ngữ "quản lý" được định nghĩa là: "Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan". Trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, nhà xuất bản khoa học năm 1994 đã nêu quản lý là: một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật; còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học. Quản lý là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành những hoạt động theo chức năng quản lý như xác định mục tiêu, hoạch định các chủ 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, phối hợp, kiểm tra, huy động và sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực.để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định.
Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật và gồm hai thành phần: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý: - Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên. - Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể như: Môi trường, thiên nhiên, đoàn xe., vừa có thể là sự việc như: luật lệ, quy chế, quy định.Cũng có khi khách thể, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn. Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau. Theo Nguyễn Minh Đạo [12, tr.
64 ], "Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý". Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý trong quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý. Chức năng quản lý được quy định một cách khách quan bởi hoạt động của khách thể quản lý.
Chức năng quản lý là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý. Henry Fayol đã đưa ra 5 chức năng sau đây mà người ta gọi là 5 yếu tố của Fayol: Kế hoạch hoá, tổ chức, ra lệnh, phối hợp, kiểm tra và đánh giá. Trong cuốn "Cơ sở khoa học quản lý" Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1997, có nêu các chức năng quản lý gồm: Kế hoạch hoá - tổ chức 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - phối hợp - điều chỉnh, kích thích - kiểm tra, hạch toán. Sau khi nghiên cứu, tổng kết các nhà nghiên cứu cho rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản là 4 khâu liên quan mật thiết với nhau, đó là: - Kế hoạch hoá: Là làm cho việc thực hiện có kế hoạch trên diện rộng, quy mô lớn.
Căn cứ vào thực trạng và dự định của tổ chức để xác định mục tiêu, mục đích, xác định những biện pháp trong thời kỳ nhằm đạt mục tiêu dự định. - Tổ chức: Là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, bộ phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp điều phối các nguồn lực, vật lực, nhân lực. - Chỉ đạo: Đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý.
Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ để đạt được mục tiêu của tổ chức. - Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, hay một nhóm tổ chức để xem xét thực tế, theo dõi, giám sát kết quả hoạt động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những hoạt động sai. Đây chính là quá trình tự điều chỉnh của hoạt động quản lý. Với quan điểm thông tin gần đây nhiều nghiên cứu đã khẳng định thông tin trong quản lý như là chức năng thứ 5 của quản lý.
Chính vì vậy tất cả các chức năng cơ bản trên khi vận hành không thể thiếu yếu tố được xem là nền tảng, huyết mạch, đó chính là thông tin. Thông tin quản lý được xem như là hệ thần kinh của hệ thống quản lý, có tác động đến tất cả mọi khâu của quá trình quản lý. Mọi thông tin quản lý đều nhằm phục vụ cho việc ra quyết định quản lý và đạt mục tiêu quản lý. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mối quan hệ các chức năng trong chu trình quản lý Lập kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Với các chức năng đó, quản lý có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Nó nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo trật tự, kỷ cương trong bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển. Cơ chế quản lý là phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được diễn ra, quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được thực hiện (vận hành và phát triển). Để thực hiện quá trình quản lý phải có các điều kiện, phương tiện quản lý.
Đó không chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân cách của nhà quản lý (phẩm chất, năng lực). Còn hiệu quả quản lý là sản phẩm kép, nghĩa là trong quá trình quản lý, đối tượng quản lý phát triển và phẩm chất, năng lực của nhà quản lý cũng phát triển. Phát triển đội ngũ và quản lý phát triển đội ngũ Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ, nhưng đều có chung một điểm đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định. Từ đó, có thể xác định: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.
PTĐN chính là việc tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ để đội ngũ đó được thay đổi, hoàn thiện theo một chiều hướng tích cực. Nghĩa của “Phát triển trong phát triển đội ngũ” có thể dựa theo Đặng Bá Lãm [18, tr.72] "Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất và cái mới ra đời.