Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRƯỜNG TƯ THỤC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Từ cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu về phát triển ĐNGV theo xu hướng chuẩn nghề nghiệp được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều nước đã xây dựng chuẩn cho nền giáo dục của mình, gồm: Chuẩn chất lượng, chuẩn trường, chuẩn cán bộ quản lý, chuẩn giảng viên.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu đều coi ĐNGV, phát triển ĐNGV là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo chất lượng và sự phát triển của nền giáo dục, quan điểm và nhận thức về vị trí, vai trò của ĐNGV ngày càng đúng đắn, toàn diện hơn. Đồng thời, các nghiên cứu cũng đưa ra nhiều giải pháp khác nhau để phát triển ĐNGV như: Xây dựng chuẩn nghề nghiệp, các tiêu chí, yêu cầu, phương pháp kiểm tra đánh giá, sử dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại.Beerens - tác giả cuốn “Creating a Culture of Montivation and Learning” chủ trương tạo ra một nền văn hóa trong việc thúc đẩy và học hỏi đối với ĐNGV, ông cho rằng: Tạo môi trường văn hóa và động lực giúp ĐNGV có tinh thần học tập suốt đời mới là tiêu chí trung tâm của ĐNGV trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Ông chủ trương tạo ra một nền văn hóa thúc đẩy giúp ĐNGV thường xuyên học tập nâng cao trình độ của bản thân, coi đó là giá trị mới, thiết yếu của giảng viên [40]. Khi nghiên cứu về vấn đề phát triển ĐNGV tác giả Jaap Scheerens tác giả cuốn sách “Teacher’s Professional Development” [43], đã nhấn mạnh đến những yếu tố tạo nên sự phát triển của giáo viên đó là phong cách, năng lực giảng dạy và kết quả của việc giảng dạy.
Ba yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, phong cách, năng lực giảng dạy của giáo viên là điều kiện để giáo viên thực hiện có hiệu quả việc giảng dạy; ngược lại, hiệu quả việc giảng dạy là thước đo chính xác năng lực của giáo viên. 9 Lee Meng Foon đã đề cập đến những thay đổi phức tạp xảy ra trong một xã hội do toàn cầu hoá gây ảnh hưởng đến chính sách và thủ tục theo nhiều cách. Để đạt được những thành công về xã hội, học thuật trong thế kỷ XXI đòi hỏi phải có thay đổi trong giáo dục và trường học.
Trường học hiệu quả phải có những nhà giáo tốt và có tâm với nghề, người giáo viên phải có năng lực nghề nghiệp tốt trong giảng dạy và giáo dục, dễ thích ứng với thời đại. Vì vậy công tác đào tạo đội ngũ giáo viên phải được xem xét là một giải pháp nghiêm túc và có hiệu quả [41]. Công trình nghiên cứu: “Phát triển đội ngũ giáo viên” của Marriss Dorothy (2010); “Những chiến lược hiệu quả dành cho giáo viên và các nhà lãnh đạo giáo dục trong kỷ nguyên toàn cầu hóa” của Lee Little Soldier (2009); Michael Fullan, Andy Hargreaves trong cuốn sách “Teacher development and educational change” (Phát triển giáo viên và sự thay đổi của giáo dục), đề cập đến các phương diện của sự phát triển GV, đó là: (1). Phát triển tâm lí; (2).
Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; (3). Phát triển chu kỳ nghề nghiệp [44]. Vào đầu thập kỷ đầu của Thế kỷ 20, tại Singaporre có chương trình đào tạo hiệu trưởng trường phổ thông. Chương trình này đã giới thiệu Mô hình trường học xuất sắc của Singaporre (Singaporre’s School Excellence Model); trong đó có Chuyên đề phát triển đội ngũ (Staff Development).
Đây là một tài liệu khoa học có chất lượng cao đã được hai nước Việt Nam và Singaporre liên kết triển khai rất hiệu quả trong bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các trường phổ thông của Việt Nam trong thập kỷ vừa qua. Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí của chất lượng GV cũng được đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển GD&ĐT, nhu cầu tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của xã hội. Vì thế đã có nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng đội ngũ GV. Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) đã chỉ ra yêu cầu cần có đối với các phẩm chất của người GV: Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình giảng dạy; Kỹ năng sư phạm, kể cả có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; Có tư duy phê phán trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của 10 nghề dạy học; Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [dẫn theo 25].
Vai trò của người giáo viên cũng được UNESCO năm 2005 nêu rõ: Người giáo viên phải đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước và có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáo dục. Vai trò của người giáo viên đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học tập của học sinh; coi trọng hơn việc cá biệt hoá trong học tập của học sinh và thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò…Song song với sự thay đổi về vai trò, yêu cầu người giáo viên phải biết sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, từ đó đặt ra yêu cầu đối với giáo viên cần được trang bị thêm các kiến thức và kĩ năng cần thiết; yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên trong trường, cải thiện mối quan hệ giữa các giáo viên với nhau; yêu cầu thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống [45]. Trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, chức năng của GVTH mở rộng hơn. Trước hết là năng lực tổ chức dạy học với quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, tiếp đó là năng lực xây dựng và phát triển chương trình, năng lực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, năng lực giao tiếp và ứng xử với học sinh, năng lực làm việc với phụ huynh học sinh và cộng đồng…tất cả đều cho thấy một sự thay đổi lớn về năng lực nghề nghiệp của GVTH.
Do vậy, phải đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, phát triển GVTH theo chuẩn nghề nghiệp. Những nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu về ĐNGV còn được thực hiện dưới góc độ QLGD ở cấp độ vi mô và vĩ mô. Nhiều Hội thảo khoa học về chủ đề ĐNGV đã được thực hiện. Một trong số công trình đáng chú ý phải kể đến nghiên cứu của tác giả như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Trần Bá Hoành, Vũ Ngọc Hải,…Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của ngành giáo dục, các tác giả như Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Xuân Hải,…đã đem đến Hội thảo Khoa học “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên” do Khoa Sư Phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức nhiều bản báo cáo tham luận với những nội dung nghiên cứu sát với thực tiễn giáo dục hiện nay.
11 Những nhà nghiên cứu giáo dục và QLGD thực tiễn rất quan tâm vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV. Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục tháng 11/2001, tác giả Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng giáo viên từ các góc độ: đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng giáo viên, chất lượng từng GV và chất lượng ĐNGV. Các thành tố tạo nên chất lượng GV là phẩm chất và năng lực. Theo tác giả Trần Bá Hoành, phẩm chất của GV biểu hiện ở thế giới quan, lòng yêu trẻ và yêu nghề; năng lực người GV bao gồm: năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng lực thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học.
Tác giả cũng đưa ra ba giải pháp cho vấn đề của GV: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV [20]. Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên tiểu học, đã có một số công trình khoa học mang tính lí luận chung về xây dựng, phát triển ĐNGV như: Đinh Quang Báo (2007), “Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên” [19]; Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007), “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên”[1]. Trong bài viết “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng giáo viên bằng cách phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên OECD. Tác giả đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo viên có năng lực qua sự phân tích 22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục.
Tác giả cũng đề cập những chính sách cải thiện và duy trì chất lượng ở cấp vĩ mô và vi mô; từ đó, tác giả nhấn mạnh đến ba nguồn quyết định chất lượng giáo viên là: bản thân người giáo viên, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài [25]. Tại Hội thảo quốc tế năm 2016 với chủ đề: “Phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục: xu hướng Việt Nam và thế giới” do Học viện Quản lý giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đề cập đến 12 vai trò, nhiệm vụ và các nội dung liên quan đến phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên gồm: (1) Yêu cầu phát triển năng lực nghề nghiệp cho nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (xu thế mới về đổi mới giáo dục, năng lực nghề nghiệp của GV và CBQL,.); (2) Cơ chế, chính sách, sự chỉ đạo của lãnh đạo các cấp trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục các bậc học (Chính sách, cơ chế quản lý, mô hình trường học, quản lý hoạt động trường học, phát triển năng lực nghề nghiệp đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học.