phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trƣờng THPT Chƣơng 2: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trƣờng THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng Chƣơng 3: Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trƣờng THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng. 4 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lí phát triển đội ngũ giáo viên 1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài Tác giả M.Hargreaves trong cuốn sách “Phát triển giáo viên và thay đổi giáo dục” [38], đã nghiên cứu và chỉ ra các phƣơng diện để nâng cao năng lực cá nhân cho giáo viên, đó là: (i) Phát triển tâm lí, gồm 4 cấp độ: tự bảo vệ, tiền đạo đức, phụ thuộc một chiều; bảo thủ, phủ định đạo đức, tự lập; lƣơng tâm, đạo đức, phụ thuộc có điều kiện; tự lập, tự chủ, nguyên tắc, tích hợp; (ii) Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; gồm 6 cấp độ: phát triển các kĩ năng tồn tại; thành thạo các kĩ năng dạy học cơ bản; mở rộng sự linh hoạt chuyên môn; trở thành chuyên gia; góp phần phát triển chuyên môn của đồng nghiệp; tham gia đƣa ra quyết sách giáo dục ở mọi cấp độ; (iii) Phát triển chu kì nghề nghiệp, gồm 5 cấp độ: khởi động nghề nghiệp; ổn định, gắn bó nghề nghiệp; các thách thức và mối quan tâm mới và trở nên chuyên nghiệp.
Xuất phát từ lý luận về dạy học, Michel Develay (1994) bàn về các vấn đề đào tạo giáo viên, nhƣ: quan niệm, nội dung, phƣơng thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của giáo viên. Ông quan niệm: “Ðào tạo giáo viên mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tƣơng ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể đƣợc” [26]. Còn Anderson (1998) nhấn mạnh việc phát triển đội ngũ cán bộ giáo viên là một phần rất quan trọng trong hệ thống giáo dục vì nó ảnh hƣởng đến chất lƣợng quá trình giảng dạy và học tập của học sinh. Phát triển đội ngũ giáo viên đƣợc tác giả xác định là “Những hoạt động chính quy và phi chính quy đƣợc tổ chức bởi cá nhân hoặc tập thể để thúc đẩy sự phát triển và làm mới đội ngũ.
Nó bao gồm một quá trình phức hợp để phát triển các kỹ năng về thực hiện cũng nhƣ kỹ năng đánh giá. Phát triển đội ngũ giáo viên không phải là hoạt động đơn lẻ mà là quá 5 trình liên tục lâu dài và các chƣơng trình đào tạo cần có hệ thống để trở nên có ý nghĩa với các giai đoạn khác nhau” [36]. Diễn đàn Giáo dục Thế giới do UNESCO tổ chức tại Dakar, Senegal (2000) coi chất lƣợng giáo viên là một trong 10 yếu tố cấu thành chất lƣợng giáo dục, tức là giáo viên có động cơ tốt, đƣợc động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao. Năng lực chuyên môn cần phải có để đảm bảo chất lƣợng giáo dục bao gồm: Hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có tri thức sƣ phạm, có tri thức về sự phát triển, có sự hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập, làm chủ đƣợc các chiến lƣợc dạy học, hiểu biết về việc đánh giá học sinh, hiểu biết về các nguồn của chƣơng trình và công nghệ, am hiểu và đánh giá cao về sự cộng tác, có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học [39].
Tác giả Bernd Meier trong cuốn sách: “Quản lý và lãnh đạo giáo dục”[37] nghiên cứu những năng lực cơ bản mà mỗi giáo viên đều phải có đƣợc gọi là năng lực hạt nhân nòng cốt, nhƣ: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực chẩn đoán; năng lực đánh giá; năng lực tƣ vấn; năng lực tiếp tục phát triển nghề nghiệp và phát triển trƣờng học. Đào tạo để nâng cao năng lực giáo viên là công việc mà mọi quốc gia đều phải thực hiện. Cuốn sách: “Mô hình đào tạo giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm” [6] giới thiệu mô hình đào tạo giáo viên THPT&TCCN ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm, Nxb GD], với sự tham gia của nhiều tác giả, từ nhiều quốc gia. Nội dung tài liệu là sản phẩm nghiên cứu tổng kết mô hình đào tạo giáo viên ở một số quốc gia.
Các mô hình đào tạo giáo viên nhƣ: Mô hình đào tạo phân tầng; mô hình đào tạo theo cụm; mô hình chƣơng trình đào tạo tại trƣờng phổ thông. Nhìn chung, các nghiên cứu nƣớc ngoài đã đƣa ra các chuẩn giáo viên phổ thông với nhiều tiêu chí khác nhau nhƣng đều xoay quanh các phẩm chất, năng lực cần thiết của giáo viên để giải quyết các mối quan hệ giữa các yếu tố: ngƣời dạy - ngƣời học - tri thức khoa học - môi trƣờng học tập và các mối quan hệ với 6 cộng đồng. Đây chính là mục tiêu để đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông tại các quốc gia. Những nghiên cứu ở trong nƣớc Theo Tiến sĩ Raja Roy Singh (Ấn Độ): “Không một hệ thống giáo dục nào có thể vƣơn quá tầm những giáo viên làm việc cho nó”, từ đó có thể khẳng định nhân sự có vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của nhà trƣờng.
Sự tồn tại và phát triển của nhà trƣờng phụ thuộc vào việc khai thác và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả nhƣ: tài chính, cơ sở vật chất, khoa học kĩ thuật, nguồn lao động và các nguồn lực khác. Các nguồn lực có mối quan hệ mật thiết với nhau, có sự tác động qua lại. Tuy nhiên các yếu tố nhƣ cơ sở vật chất, thiết bị, công nghệ có thể dễ dàng mua sắm, trang bị, cập nhật… nhƣng nguồn lực con ngƣời thì không thể thực hiện đơn giản nhƣ vậy. Thông báo số 242-TB/TW - Kết luận của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 2 (khóa VIII), phƣơng hƣớng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, trong đó xác định: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lƣợng, đáp ứng yêu cầu về chất lƣợng” [29].
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, trong báo cáo chính trị đã khẳng định một lần nữa: “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo”.[11] Trong những năm qua có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nhƣ: Đinh Quang Báo với đề tài “Giải pháp đổi mới phƣơng thức đào tạo nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên” [1]; Trần Thị Hƣơng với đề tài “Một số ý kiến về nâng cao chất lƣợng công tác bồi dƣỡng giáo viên phổ thông” [16]; Nguyễn Thị Mỹ Lộc với đề tài “Xây dựng mô hình và quy trình đào tạo Giáo viên chất lƣợng cao trong Đại học Đa ngành, đa lĩnh vực” [24]; Trần Văn Trung với đề tài “Định hƣớng phát triển năng lực thực thành cho sinh viên sƣ phạm ở trƣờng Đại học Thủ Dầu Một” [31] 7 Trong nhiều đề tài nghiên cứu về quản lí phát triển đội ngũ giáo viên trƣờng THPT có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu nhƣ: - Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THPT huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn (Luận văn Thạc sĩ QLGD của tác giả Phùng Văn Thời trƣờng Đại học giáo dục. Đại học Quốc gia Hà Nội) [9]. - Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trƣờng THPT Quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay (Luận văn Thạc sĩ QLGD của tác giả Phạm Thị Hà trƣờng Đại học giáo dục.
Đại học Quốc gia Hà Nội) [14]. - Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu trƣởng các trƣờng THPT huyện Eaka (Đắc Lắc) (Luận văn thạc sĩ QLGD của tác giả Lê Thanh Hùng, trƣờng ĐHSP Hà Nội) [15]. Căn cứ vào nội dung trình bày của các tác giả ở từng địa phƣơng có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, rất nhiều tác giả đã đầu tƣ nghiên cứu ở nhiều vấn đề khác nhau, khảo sát thực trạng về tình hình quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của địa phƣơng nơi các tác giả công tác cũng nhƣ việc đề xuất các giải pháp, biện pháp cần thiết cho sự phát triển đội ngũ giáo viên. Qua thực tế công tác, học tập nghiên cứu bản thân nhận thấy trên địa bàn huyện Phú Giáo chƣa có công trình nào nghiên cứu sâu về thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trƣờng THPT trên địa bàn.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lí nhà trƣờng 1. Quản lí Quản lý là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu. Xuất phát từ những nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, nhiều học giả đã có cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý.
Hoàng Phê trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (1988) đã định nghĩa: Quản lý là một động từ, có nghĩa là “trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hoặc tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [27, tr. 829] Tác giả Harold Koontz cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của 8 nhóm.Với tƣ cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [13]. Tác giả Trần Kiểm định nghĩa “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao nhất [23]. Tác giả Phạm Viết Vƣợng cho rằng “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hƣớng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [33].
Bằng phƣơng pháp tiếp cận hệ thống, Phan Văn Kha đã đƣa ra khái niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [21].