Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài - Chương 2. Những vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân các cấp đối với xây dựng nông thôn mới - Chương 3. Quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân các cấp đối với xây dựng nông thôn mới trên địa bản tỉnh Thái Nguyên - Chương 4.
Quan điểm, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân các cấp đối với xây dựng nông thôn mới trên địa bản tỉnh Thái Nguyên. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái quát các nghiên cứu trong nƣớc về xây dựng nông thôn mới Việt Nam hiện nay cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp. Do đó, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đặt ra như một nhu cầu cấp bách trong quá trình xây dựng NTM, đặc biệt trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, thì vấn đề trên càng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Nhóm thứ nhất Gồm những công trình nghiên cứu là sách của các học giả: - Tác giả Phan Đại Doãn (Chủ biên) trong cuốn: “Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - một số vấn đề và giải pháp” (1996) làm rõ những hạn chế trong quản lý xã hội nói chung ở khu vực nông thôn nước ta. Trên cơ sở đó nhóm tác giả nhấn mạnh: Phát triển KTNT phải gắn kết chặt chẽ với ba vấn đề đó là: ổn định chính trị, xã hội; tăng trưởng kinh tế; công bằng xã hội mới bền vững. Tăng trưởng, phát triển kinh tế phải đi liền với cải thiện đời sống nông dân, phải đặt trong bối cảnh xã hội gắn với phát triển con người. - Sách “Phát triển nông thôn” (1997) của tác giả Phạm Văn Nam (Chủ biên) đã chỉ ra thực trạng của nông nghiệp, nông thôn trước thời kỳ đổi mới và tác động KT-XH của đổi mới với phát triển nông thôn.
Nhóm tác giả khẳng định: Trình độ phát triển của KTNT nước ta còn thua kém nhiều nước. Để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển, nhóm tác giả đã trích dẫn một số lý thuyết và mô hình phát triển nông thôn trên thế giới để tham khảo, như: + Lý thuyết đề cao vai trò của nông nghiệp trong quá trình chuẩn bị công nghiệp hoá, xây dựng một nền công nghiệp vững mạnh và năng động sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp phát triển và sự tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế. Nhưng hạn chế của lý thuyết này là chỉ đề cập tới việc khai thác các nguồn lực của nông nghiệp, nông thôn để phục vụ công nghiệp hoá, đô thị hoá, còn triển vọng phát triển của bản thân nông nghiệp như thế nào thì không được đề cập thoả đáng. + Lý thuyết chủ trương “nhảy thẳng” vào CNH, đô thị hoá và xem nhẹ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thu hẹp đến mức tối thiểu vai trò của KTNT trong nền kinh tế quốc dân, cho rằng nông nghiệp về cơ bản chỉ định hướng vào sản xuất lương thực, thực phẩm.
+ Lý thuyết chủ trương kết hợp hài hoà giữa nông nghiệp với công nghiệp nông thôn trong quá trình phát triển. Lý thuyết này có tính hợp lý hơn khi cho rằng phải chú ý 10 tới phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách thoả đáng, nhất là đối với các nước đang phát triển, nơi đại đa số dân cư sống ở nông thôn và tỷ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao. - Sách “Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” (2000) của các tác giả Tô Đức Hạnh và Phạm Văn Linh đã trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn; nêu một số kinh nghiệm của Đài Loan và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) trong phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn vùng núi. Đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn ở các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam là: thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nông thôn, tăng cường vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước; mở rộng phân công lao động gắn với xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý; phát triển thị trường; xây dựng, phát triển kết cấu HTNT; phát triển giáo dục, nâng cao dân trí gắn với đào tạo nguồn nhân lực; huy động và sử dụng hợp lý các nguồn vốn cho phát triển kinh tế hàng hoá; phát triển khoa học công nghệ; tăng cường vai trò QLNN của chính quyền các cấp.
- Tác giả Trần Xuân Châu, trong: “Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” (2003) cho rằng, phát triển nông nghiệp hàng hoá trong nông nghiệp là phương thức tối ưu để thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng nền kinh tế trong giai đoạn đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước; là con đường duy nhất để giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng nông dân, nông thôn ra khỏi tình trạng lạc hậu và cũng là quy luật chung của sự phát triển kinh tế xã hội. Nền nông nghiệp nước ta đã và đang chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp sang sản xuất kinh doanh hàng hoá theo cơ chế thị trường, ngày càng hướng vào xuất khẩu, đây là một chuyển biến có ý nghĩa hết sức quan trọng và sâu sắc, làm thay đổi tính chất và các mối quan hệ cơ bản trong nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời theo tác giả, lợi thế và vai trò của nông nghiệp hàng hoá được khai thác chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển đổi chậm, tổ chức sản xuất còn yếu kém, chất lượng hàng hoá, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, thu nhập và đời sống của đa số nông dân còn thấp.
Tác giả làm rõ các nội dung, đặc trưng, vai trò, điều kiện của việc đẩy nhanh phát triển nền nông nghiệp hàng hoá; trình bày kinh nghiệm của một số nước về phát triển nông nghiệp hàng hóa. Trên cơ sở những phân tích trên, cuốn sách đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở nước ta, trong đó có vấn đề quản lý của Nhà nước. - “Giáo trình phát triển nông thôn” (2005) do tác giả Mai Thanh Cúc chủ biên; “Giáo trình Quản lý nhà nước về Nông nghiệp và Nông thôn” (2008) do PGS. Phạm Kim Giao chủ biên.
Nội dung các giáo trình chủ yếu đề cập đến phát triển KTNT, cụ thể 11 là: Khái quát vai trò của phát triển KTNT đối với sự phát triển kinh tế quốc dân từ đó nhấn mạnh thách thức về tăng cường KTNT, giới thiệu tóm tắt các nguyên tắc kinh tế trong phát triển KTNT, khái quát tính chất và cơ cấu của nền kinh tế nói chung, của KTNT nói riêng; 04 loại hình doanh nghiệp ở nước ta và sự đóng góp đối với phát triển nông thôn; vai trò, quan điểm, chiến lược phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản; vai trò, chính sách, chiến lược phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ trong KTNT; phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội và môi trường ở nông thôn: những khía cạnh xã hội chủ yếu liên quan đến chủ thể nông thôn đề cập đến bao gồm: tình trạng nhà ở thấp kém ở nhiều vùng, nghèo đói và suy dinh dưỡng, không đầy đủ dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và cơ sở hạ tầng: đường, hệ thống cung cấp nước tưới, tiêu và khống chế lũ lụt, năng lượng, vận tải và thông tin, môi trường là cơ sở bền vững cho phát triển nông thôn ở Việt Nam; vai trò quản lý của Nhà nước và các tổ chức trong phát triển nông thôn: Nhà nước có vai trò quan trọng như một người hỗ trợ chính cho tiến trình này. Vai trò quản lý của Nhà nước là tổ chức, hướng dẫn và phối hợp tất cả các hoạt động, đồng thời công nhận và khuyến khích hoạt động của bản thân người dân và của chính quyền các cấp tỉnh, huyện, xã, thôn. - Sách “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - quá khứ và hiện tại” (2007) của PGS. Nguyễn Văn Bích đã khái quát quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ năm 1901 đến nay và rút ra những nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm.
- Sách “Về chính sách nông nghiệp ở nước ta hiện nay” (2007), do PGS. Trần Thị Minh Châu chủ biên. Tác giả cuốn sách đã đề cập đến thực trạng chính sách nông nghiệp ở Việt Nam, những chính sách quản lý đất nông nghiệp từ thời kỳ năm 1981 đến nay. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện chính sách đất nông nghiệp như: Hoàn thiện khung pháp lý đảm bảo phân rõ quyền tự chủ ruộng đất cho nông dân theo nguyên tắc thị trường và quyền đại diện quản lý đất đai của Nhà nước; hoàn thiện chính sách khuyến khích nông dân tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp; hoàn thiện giải pháp tài chính trong chính sách đất nông nghiệp; tích cực tuyên truyền về đường lối, chính sách về quản lý đất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ở nông thôn.
- Tác giả Hoàng Ngọc Hoà, trong: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta” (2008) đã tổng kết góp phần làm sáng tỏ quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn để tìm ra những nguyên nhân của thành công và hạn chế, đề xuất những kiến nghị, 12 giải pháp QLNN nhằm tiếp tục đưa KTNT nước ta phát triển. Với vị trí và tầm quan trọng chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế, chúng ta đạt được nhiều thành tựu trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân, nhưng chưa tương xứng với vị trí chiến lược và tiềm năng, lợi thế của nông nghiệp, nông thôn. Để phát triển KTNT những năm tới cần: tạo được bước chuyển biến mang tính đột phá về chất trong sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề ở nông thôn; thực hiện tốt công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, tăng cường đầu tư từ ngân sách… - Sách “Bàn về một số vấn đề ở nông thôn nước ta hiện nay” (2008) của GS. Hồ Văn Thông bao gồm các vấn đề: Cộng đồng làng xã Việt Nam; thực hiện quy chế dân chủ gắn với việc xây dựng chính quyền cấp xã; thể chế dân chủ gắn với việc ổn định và phát triển nông thôn hiện nay.