Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG TỪ NGÂN SÁCH CẤP TỈNH 1. Khái quát chung về hạ tầng giao thông và quản lý nhà nước về xây dựng hạ tầng giao thông từ ngân sách nhà nước của tỉnh 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan Hạ tầng được hiểu là một trong số những thành phần cơ bản của kết cấu, là một tầng đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất được diễn ra bình thường. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về hạ tầng nhưng, về cơ bản các định nghĩa này đều phản ánh các nội dung sau: Theo nghĩa rộng: hạ tầng bao gồm toàn bộ các ngành, lĩnh vực phục vụ, các ngành này có sự kết hợp chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống cơ bản của xã hội.
Theo nghĩa hẹp: hạ tầng giao thông bao gồm các công trình được xây dựng để phục vụ cho quá trình sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng. Như vậy, trong mỗi lĩnh vực khác nhau, khái niệm cụ thể về hạ tầng có sự khác nhau đôi chút để phù hợp với các ngành cụ thể và trong ngành giao thông có thể hiểu: Hạ tầng giao thông là toàn bộ cầu, đường, các công trình phục vụ liên quan, hệ thống công nghệ và trang thiết bị quản lý đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế – xã hội. Trong đó, hạ tầng giao thông đường bộ là bộ phận giữ vai trò quan trọng nhất, là huyết mạch của hệ thống GTVT (Theo Nguyễn Hồng Thái, 2018). Đặc điểm của hạ tầng giao thông * Là hàng hóa công cộng không thuần túy Bởi nó có hai đặc tính: Thứ nhất là nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng.
Thứ hai là người ta không muốn hoặc không thể sử dụng nó theo kiểu khẩu phần. Căn cứ vào đặc tính công cộng của hạ tầng giao thông, tức là mức độ “công cộng” hay mức độ tham gia giao thông khác nhau nên người ta chia HTGT thành nhiều loại đường giao thông khác nhau: Đường cao tốc, đường quốc lộ, đưởng 14 tỉnh…với các cấp kỹ thuật khác nhau để phục vụ nhu cầu giao thông khác nhau; và chi phí xây dựng cũng khác nhau nên phải phân cấp quản lý để đầu tư và quản lý vốn đầu tư theo từng loại cho phù hợp. Xét trên mặt chi chí xây dựng HTGT và lợi ích về mặtKTXH mà HTGT mang lại, thì HTGT thường có lợi ích lớn hơn chi phí tạo ra nó, do vậy sự cần thiết phải xây dựng HTGT cho xã hội sử dụng. Nếu tư nhân xây dựng HTGT cho xã hội sử dụng thì việc thu lại lợi nhuận là rất khó và tư nhân sẽ chỉ đầu tư vào các địa bàn thuận lợi còn những vùng địa bàn khó khăn sẽ không đầu tư.
Vì vậy để đảm bảo phát triển hài hòa, Nhà nước phải đầu tư xây dựng HTGT cho nhân dân đi lại ở địa bàn khó khăn. Còn tại khu vực thuận lợi nhà nước có thể kêu gọi tư nhân tham gia bằng các chính sách về GPMB, cấp đất, ưu đãi sử dụng đất hai bên đường… Như vậy bài toán mà Nhà nước có thể hợp tác với tư nhân để xây dựng HTGT có thể giải quyết được bối cảnh thiếu hụt vốn xây dựng HTGT. * HTGT có tính hệ thống và tương hỗ lẫn nhau. Tính hệ thống của HTGT được thể hiện sự kết nối giữa các tuyến đường với nhau.
Tuyến đường trục chính kết nối với các tuyến đường nhánh, đường phụ, giữa các tuyến đường quốc lộ với đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường liên thôn, đường xóm, ngõ, kết nối cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, ga đường sắt… sự kết nối này đã tạo thành hệ thống giao thông vận tải nói chung. Với đặc tính hệ thống liên hoàn của HTGT giúp công tác xây dựng chiến lược, lập quy hoạch tổng thể phát triển HTGT của quốc gia, khu vực hay của từng địa phương đều được xem xét nghiên cứu dưới sự tương trợ giữa các tuyến đường với nhau về mặt lưu thông trung chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân, đồng thời được tính toán, đánh giá chặt chẽ về lợi ích KTXH đặt trong hệ thống HTGT ở địa phương hay khu vực. Nghiên cứu tính hệ thống và tương hỗ của HTGT giúp cho nhà quản lý khi phê duyệt dự án phát triển HTGT phải đảm bảo tính đồng bộ, cân đối giữa các loại đường, tuyến đường trong khu vực. Tính toán phân bổ và sử dụng vốn xây dựng mới, nâng 15 cấp, duy tu bảo trì đường bộ, cầu, cống và các công trình phụ trợ khác cho phù hợp với khu vực đầu tư, dân trí và cảnh quan đô thị.
* HTGT là loại tài sản cố định có thời hạn sử dụng khó xác định và chịu tác động trực tiếp của điều kiện môi trường tự nhiên. Một dự án HTGT khi dự án đi vào hoạt động khai thác sử dụng, dự án đó sẽ trở thành tài sản cố định của quốc gia. Giá trị của tuyến đường bộ, cầu, cống hoặc công trình phụ trợ khác nhau khi hoàn thành đủ điều kiện trở thành tài sản cố định có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài nhưng khó có thể xác định được thời gian sử dụng trong bao lâu bởi lưu lượng người, phương tiện tham gia giao thông trên các tuyến đường khác nhau. Trong quá trình sử dụng, hạ tầng HTGT luôn chịu tác động của khí hậu, thời tiết như nắng, mưa, bão, lũ.,làm hư hỏng, lún sụt, sạt lở, gãy vỡ cầu, cống, ảnh hưởng của điều kiện địa chất như đất yếu… * HTGT có tính chất cố định tại nơi xây dựng, vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng xây dựng dài.
Công trình HTGT được đầu tư cố định tại nơi xây dựng công trình, được phê duyệt xác định chính xác mốc giới, chiều dài, chiều rộng của công trình. Chi phí suất đầu tư trên một kilomet đường hoặc chi phí xây dựng các cầu, hầm, đường bộ là rất lớn, nên vốn đầu tư cần thiết là rất lớn để đầu tư cho một tuyến đường hoặc công trình HTGT. Hơn nữa, thời gian thi công các công trình HTGT là rất dài do yếu tố kỹ thuật phức tạp, giải phóng mặt bằng khó khăn, sử dụng khối lượng vật liệu lớn,. Đặc điểm này đặt ra các yêu cầu cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách phải thực hiện tốt công tác quy hoạch; chuẩn bị kế hoạch lâu dài; dự báo vốn đầu tư đầy đủ để làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, phân bổ vốn, cấp phát cho công trình được liên tục, đảm bảo tiến độ đầu tư và không làm gián đoạn thi công công trình.
Vai trò của hạ tầng giao thông trong phát triển kinh tế xã hội Giao thông vận tải có vai trò hết sức quan trọng là tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, góp phần tích cực phát triển kinh tế xã hội. Kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng cả về lượng lẫn về chất. Đối với phát triển kinh tế: HTGT là điều kiện tiền đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. HTGT phát triển sẽ tạo điều kiện cho các luồng vận vận tải hàng hóa được lưu thông thuận lợi, nhanh chóng, qua đó thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác, chi tiêu cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế J. Keynes đã khái quát hóa sự tác động này trong mô hình số nhân. Sản lượng tăng thêm do đầu tư cho hạ tầng giao thông được tính theo công thức sau: Trong đó: Q là sản lượng tăng lên do việc chi tiêu cho đầu tư; I là số tiền chi tiêu cho đầu tư; MPC là xu hướng tiêu dùng cận biên. Trong các giai đoạn kinh tế khó khăn như suy thoái, thất nghiệp, chính phủ các nước thường tăng cường chi ngân sách cho xây dựng hạ tầng giao thông để kích thích tăng trưởng kinh tế, đồng thời hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của đất nước.
HTGT phát triển làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất: Để tiết kiệm chi phí vận tải, các nhà đầu tư sẽ chỉ lựa chọn những địa điểm có điều kiện giao thông thuận lợi để đặt các cơ sở sản xuất kinh doanh. Khi hạ tầng giao thông tại một địa phương phát triển sẽ lôi kéo các nhà đầu tư đến địa phương đó và hình thành lên những ngành kinh tế mới. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương vì thế sẽ diễn ra. 17 HTGT phát triển làm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế: Sức cạnh tranh của nền kinh tế liên quan trực tiếp đến hai yếu tố là giá thành sản phẩm và môi trường đầu tư.
HTGT phát triển sẽ tạo điều kiện hạ giá thàn sản phẩm do chi phí vận tải giảm, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư. Vị vậy, sự phát triển của hạ tầng giao thông sẽ giúp nâng cao sức cạn tranh của nền kinh tế. Đối với phát triển xã hội: HTGT phát triển góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, kích thích tăng trưởng kinh tế, cải thiện thu nhập và mức sống của người dân. Vì thế người dân sẽ có điều kiện hưởng thụ các điều kiện vật chất, văn hóa tinh thần cao hơn.
HTGT phát triển tác động đến phân bố lại dân cư. Mỗi khi có tuyến đường mới mở ra đồng nghĩa với điều kiện sống và điều kiện sản xuất kinh doanh của người dân ở hai bên đường được cải thiện. Người dân sẽ chuyển đến sinh sống ở những nơi có điều kiện sống tốt hơn và có cơ hội kiếm sống dễ dàng hơn. Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng hạ tầng giao thông từ nguồn ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm và yêu cầu quản lý nhà nước về xây dựng hạ tầng giao thông từ ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1. Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng hạ tầng giao thông từ ngân sách nhà nước Quản lý nhà nước (QLNN) là một quá trình phức tạp, đa dạng và là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội.