CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG 1. Một số khái niệm liên quan đến Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội 1. Trật tự an toàn xã hội Trật tự, an toàn xã hội là trạng thái xã hội bình yên trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định. Đấu tranh giữ gìn Trật tự an toàn xã hội bao gồm: giữ gìn trật tự nơi công cộng; đảm bảo trật tự an toàn giao thông; phòng ngừa tai nạn; bài trừ tệ nạn xã hội; bảo vệ môi trường.
Bảo vệ Trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt và có chức năng tham mưu, hướng dẫn và trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự công cộng, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, tham gia phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường [3, Tr 1182]. Dù đứng ở góc độ nghiên cứu nào, chúng ta cũng thấy có sự thống nhất trong đánh giá về nội hàm của khái niệm Trật tự an toàn xã hội, điều đó được thể hiện trên những dấu hiệu căn bản sau: - Đó là một trạng thái trật tự, nề nếp, kỷ cương, bình yên của xã hội. - Trạng thái này chỉ đạt tới độ vững chắc khi được thiết lập trên cơ sở sự tự giác tuân thủ quy phạm pháp luật, đạo đức của mọi người trong xã hội - Là kết quả tổng hợp của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội; công tác quản lý, bảo vệ, gìn giữ trật tự, an toàn trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. 7 - Công tác bảo đảm Trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó lực lượng Công an nhân dân là nòng cốt.
Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội là bộ phận rất quan trọng của Quản lý Nhà nước nói chung, của Quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự nói riêng. Thực chất đó là sự tác động đồng bộ có mục đích của Nhà nước thông qua hoạt động của một hệ thống các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội được chức năng hóa trong lĩnh vực này (trên cơ sở quy định của pháp luật) vào tất cả các yếu tố cấu thành nên Trật tự an toàn xã hội nhằm tạo nên sự ổn định, an toàn cho đất nước trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nhằm đạt tới các mục tiêu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN. Thực hiện Quản lý Nhà nước về Trật tự xã hội xã hội trước hết nhằm đem lại sự bình yên trong hoạt động của các cơ quan, các tổ chức xã hội và cá nhân, bảo vệ trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội, bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ công dân, đấu tranh có hiệu quả với tình trạng phạm tội, với các vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội. Về thực chất, khái niệm Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội bao gồm những điểm chính yếu sau: Là sự tác động có tổ chức, có có hệ thống và bằng pháp luật vào tất cả những yếu tố cấu thành nên Trật tự an toàn xã hội nhằm điều chỉnh có hiệu lực, hiệu quả các quan hệ xã hội, tạo nên những cơ sở vững chắc đảm bảo cho một nền Trật tự an toàn xã hội theo ý chí của Nhà nước.
Là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người có liên quan đến trật tự an toàn xã hội. Hệ thống các chủ thể quản lý rất rộng, trong đó chủ thể trực tiếp, nòng cốt là lực lượng Công an nhân dân. 8 Đối tượng Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội là tất cả các cơ quan, tổ chức, nhóm người, cộng đồng người, các cá nhân tham gia các mối quan hệ thuộc phạm trù trật tự an toàn xã hội. Như vậy, có thể rút ra: Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan Nhà nước hoặc các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của Nhà nước trong lĩnh vực Trật tự an toàn xã hội.
Cơ sở pháp lý thực hiện nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân phường trong Quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn xã hội 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở phường (Điều 59 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, 2015) - Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn phường. - Quyết định những vấn đề của phường trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. - Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền.
- Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương ở quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở phường. - Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn phường. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường (Điều 36 và Điều 64 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, 2015) Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người đứng đầu Ủy ban nhân dân xã và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: - Lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân xã; - Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã; thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; thực hiện các biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật; - Quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, phương tiện làm việc và ngân sách nhà nước được giao theo quy định của pháp luật; - Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp công dân theo quy định của pháp luật; - Ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; - Chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy, nổ; áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật; - Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền. Nội dung quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội của Ủy ban nhân dân phường Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 chức năng quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội của UBND phường được phân định như sau: - Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn phường (Khoản 5, Điều 59).
- Chủ tịch UBND phường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã; thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; thực hiện các biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật (Khoản 2, Điều 36). - Công an phường là cấp công an chiến đấu ở cơ sở, có trách nhiệm tham mưu giúp Đảng ủy, UBND phường bảo vệ an ninh, trật tự; tổ chức thực hiện Quản lý Nhà nước về An ninh, trật tự trên địa bàn phường [Điều 1, Quyết định 826/2006/QĐ- BCA (X13) ngày 20/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Công an]. Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay Ủy ban nhân dân phường (theo Chuyên đề 13: Hoạt động của HĐND, UBND xã trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng của Bộ Nội vụ) thường tập trung tổ chức thực hiện những nội dung cụ thể sau đây: 11 1. Tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch của cấp trên về bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền cấp tỉnh, thành phố, huyện, thị xã thường xuyên đề ra các chủ trương, chính sách, chương trình hoặc các kế hoạch cụ thể khác nhau để bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên các lĩnh vực, phạm vi địa bàn khác nhau, trong đó có những nội dung phải tổ chức thực hiện ở cơ sở.