Chương 1, luận văn cũng đã đi vào phân tích những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội CGTS như khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình 14 tội CGTS, mục đích, nguyên tắc của phòng ngừa tình hình tội CGTS. Các biện pháp phòng ngừa tình hình tội CGTS được tác giả chia thành hai nhóm, đó là: nhóm các biện pháp ngăn chặn tội CGTS và nhóm các biện pháp đẩy lùi tội CGTS. Tuy nhiên, tác giả luận văn chưa thật sự phân tích một cách sâu sắc các nội dung trên, nhiều vấn đề vẫn còn bỏ ngỡ, chưa được nghiên cứu hoặc mới được tác giả khái quát một cách sơ lược nhất, cụ thể như: tác giả mới chỉ khái quát được chủ thể của phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung (tr.28-29) mà không hề đề cập đến chủ thể phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi? Các cơ sở của phòng ngừa tình hình tội CGTS cũng không được đề cập và phân tích đến; ngoài những nguyên tắc chung trong phòng ngừa tình hình tội phạm, tác giả chưa đưa ra được các nguyên tắc đặc thù trong phòng ngừa tình hình tội CGTS gắn với địa bàn tỉnh Quảng Ngãi… Những vấn đề lý luận này sẽ được chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và phân tích làm rõ trong quá trình thực hiện luận án của mình. Các công trình nghiên cứu về thực trạng phòng ngừa và các biện pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Luận án Tiến sĩ luật học“Hoạt động của lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về TTATXH trong phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn các tỉnh phía Nam” của tác giả Bùi Thành Trung [109].
Thông qua việc phân tích, làm rõ đặc điểm tội phạm học của tội CGTS trên địa bàn các tỉnh phía Nam từ năm 2003 đến năm 2012, đánh giá thực trạng tiến hành các hoạt động phòng ngừa của lực lượng CSĐTTP về TTXH, bằng những luận giải sâu sắc và các số liệu đầy tin cậy tác giả đã chỉ ra được những ưu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác phòng ngừa tội này. Từ đó dự báo tình hình tội phạm và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội CGTS trong thời gian tới. Các giải pháp nghiệp vụ được tác giả đưa ra rất chặt chẽ, khoa học, mang tính thực tiễn cao trong phòng ngừa tình hình tội CGTS sẽ được NCS vận dụng hợp lý trong quá trình thực hiện luận án của mình. Tuy nhiên các biện pháp phòng ngừa xã hội mới chỉ được tác giả đề cập ở mức độ chung nhất.
Luận án Tiến sĩ “Đấu tranh phòng, chống cướp giật tài sản ở nước ta hiện nay” của tác giả Đặng Thúy Quỳnh [82]. Đây là một công trình nghiên cứu có tính chuyên sâu về tội phạm học, bằng nhiều phương pháp khác nhau tác giả đã phân tích một cách thấu đáo về tình hình tội CGTS ở nước ta từ năm 2001 đến năm 2012 15 thông qua việc làm rõ phần hiện, phần ẩn của tình hình tội CGTS. Đồng thời trên cơ sở vận dụng lý luận Mác xít về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, tác giả đã chỉ ra rằng “nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội CGTS ở nước ta hiện nay là tìm ra hệ thống các yếu tố làm phát sinh tình hình tội CGTS, bằng cách tìm kiếm các yếu tố tiêu cực từ môi trường sống, những yếu tố tiêu cực thuộc chủ thể của hành vi phạm tội và những yếu tố tình huống” [82, tr. Kết quả nghiên cứu của công trình này chính là một trong những tiền đề hết sức quan trọng để NCS tiếp tục phân tích làm rõ tình hình tội CGTS trên địa bàn TP.HCM như một sản phẩm của hoạt động phòng ngừa, là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động phòng ngừa tình hình tội này trong thời gian qua.
Luận án Tiến sĩ Luật học“Điều tra tội phạm cướp giật tài sản theo chức năng của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về TTATXH” của Phạm Thị Thoa bảo vệ năm 2016 tại Học viện Cảnh sát Nhân dân [95]. Luận án đã khảo sát, làm rõ thực trạng tổ chức biên chế của lực lượng CSĐTTP về TTXH, đặc biệt thực trạng hoạt động điều tra tội CGTS ở các nội dung cụ thể như: thực trạng tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác tội phạm; hoạt động khởi tố vụ án hình sự; hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong điều tra tội phạm CGTS, thực trạng tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng. Công trình này có giá trị khoa học cao, được tác giả dày công nghiên cứu trên phương diện điều tra tội phạm theo chức năng của lực lượng CSĐTTP về TTXH, tuy nhiên luận án vẫn chưa đi vào phân tích làm rõ các vấn đề có liên quan đến hoạt động phòng ngừa tình hình tội CGTS của các chủ thể khác. Luận án Tiến sĩ “Tội cướp giật tài sản trên địa bàn các tỉnh Đông Nam Bộ: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” của tác giả Phạm Văn Trung [111].
Đây là công trình nghiên cứu khá công phu và có thể xem là công trình tiêu biểu cho xu hướng kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tình hình tội CGTS trên cơ sở phân tích tình hình tội CGTS, xác định nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội này trên địa bàn các tỉnh Đông Nam Bộ. Luận án có đề cập và đánh giá một cách tương đối chung nhất về thực tiễn thực hiện các giải pháp phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 tại Chương 4 của luận án (từ trang 107 đến trang 112). Thực trạng nhận thức phòng ngừa, thực trạng chủ thể phòng ngừa, quan hệ phối hợp giữa các chủ thể phòng ngừa chưa được tác giả đề cập và phân tích đến. Bên cạnh đó vấn đề hoàn 16 thiện quy trình phối hợp giữa các chủ thể trong phòng ngừa tình hình tội CGTS cũng chưa được tác giả khai thác, nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu đạt được của công trình này là tài liệu tham khảo hết sức quan trọng có thể được NCS khai thác, vận dụng một cách cụ thể, sáng tạo, tương ứng và phù hợp với đặc điểm đặc trưng về địa lý, dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội của TP. Luận văn Thạc sĩ Luật học “Phòng ngừa tội cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội” của Nguyễn Hải Yến bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013 [143]. Để nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn Thành phố Hà Nội, tác giả cho rằng cần tiến hành đồng bộ các nhóm giải pháp về kinh tế - xã hội; tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về TTXH; đặc biệt các giải pháp phòng ngừa nhằm khắc phục nguyên nhân, điều kiện từ phía người bị hại trong các vụ CGTS. NCS sẽ tiếp thu và vận dụng hợp lý các giải pháp này trong quá trình thực hiện luận án.
Tuy nhiên do yêu cầu và khuôn khổ của một luận văn nên tác giả chưa đưa ra được các cơ sở của hoạt động phòng ngừa cũng như tồn tại, hạn chế trong thực trạng phòng ngừa tình hình tội CGTS cùng những tài liệu, minh chứng cụ thể. Luận văn Thạc sĩ: “Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Trần Minh Thành (2016) [93]. Đây là một công trình nghiên cứu khá hay, Chương 2 luận văn đã trình bày thực trạng phòng ngừa tình hình tội CGTS từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới như: tăng cường nhận thức phòng ngừa, tăng cường hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa, tăng cường nguồn lực phòng ngừa. Tuy nhiên, theo NCS việc tác giả phân tích thực trạng nhận thức về ý nghĩa, mục đích, các nguyên tắc, nội dung phòng ngừa tình hình tội CGTS tại mục 2.1 trang 30 của luận văn thông qua việc phân tích phần hiện, phần ẩn và nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội CGTS là chưa hoàn toàn hợp lý, tác giả vẫn chưa đưa ra được những đánh giá, nhận định cũng như làm rõ được nhận thức trong phòng ngừa tình hình tội này.
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác liên quan đến hoạt động phòng ngừa tình hình tội CGTS nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu dưới góc độ hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân, còn hoạt động phòng ngừa của các chủ thể có thẩm quyền khác như TAND, VKSND, các cấp ủy Đảng, chính 17 quyền chưa được các tác giả quan tâm đúng mức như: Luận văn Thạc sĩ “Hoạt động của lực lượng CSĐTTP về TTXH Công an TP.HCM trong phòng ngừa và điều tra tội phạm CGTS của những người giao dịch tại các ngân hàng” bảo vệ năm 2011 của tác giả Trần Văn Ngọc [62], Luận văn Thạc sĩ “Hoạt động của lực lượng Cảnh sát hình sự Công an TP.HCM trong phòng ngừa tội phạm CGTS” của tác giả Nguyễn Văn Khoa Điềm bảo vệ năm 2016 tại Trường Đại học CSND [39]… 1. Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu - Liên quan đến những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm nói chung, NCS nhận thấy rằng các vấn đề cơ bản về tội phạm học và các tri thức của nó được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu khá sớm so với Việt Nam. Mặc dù có sự khác nhau về tình hình kinh tế, thể chế chính trị, truyền thống văn hóa và kinh nghiệm trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm nhưng những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm ở các quốc gia cũng có khá nhiều điểm tương đồng như đa số các tác giả đều cho rằng phòng ngừa tình hình tội phạm cần được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả hoạt động phòng và chống hay nói cách khác phòng ngừa tình hình tội phạm một mặt là thủ tiêu nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, không để cho tội phạm xảy ra, mặt khác bằng mọi cách ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm và xử lý nghiêm minh người phạm tội. Hay hoạt động phòng ngừa tội phạm đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều chủ thể từ cơ quan chuyên trách đến người dân và cả những nhà khoa học.
Quan điểm này làm cơ sở nền tảng giúp tác giả định hướng trong việc xây dựng, hoàn thiện lý luận về phòng ngừa tình hình tội CGTS.