Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ TRÊN TUYẾN BIÊN GIỚI 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG, HÌNH THỨC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ TRÊN TUYẾN BIÊN GIỚI 1. Khái niệm, đặc điểm tội phạm Tội phạm hình sự từ rất lâu đã trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội loài người, là tâm điểm chú ý của mỗi quốc gia, mỗi khu vực đồng thời là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Do vậy đấu tranh chống tội phạm hình sự đã, đang và sẽ trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công (8/1945) Đảng và Nhà nước ta đã coi cuộc đấu tranh chống tội phạm hình sự là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH. Chính vì vậy, việc nhận thức đúng đắn, đầy đủ bản chất của tội phạm hình sự nói chung, những hành vi phạm tội cụ thể nói riêng, có ý nghĩa quan trọng giúp cho quá trình áp dụng các biện pháp đấu tranh, phòng ngừa tội phạm cũng như đề ra những biện pháp, chiến thuật đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm cụ thể. Tuỳ thuộc vào bản chất của mỗi Nhà nước mà những quy định về tội phạm có khác nhau, phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội, phù hợp với phong tục tập quán của mỗi dân tộc. Đối với Việt Nam, vấn đề tội phạm được nghiên cứu dựa trên nhiều góc độ khoa học khác nhau, mỗi môn khoa học có cách tiếp cận, nghiên cứu riêng, có mục đích và phương pháp nghiên cứu riêng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Dưới góc độ khoa học Luật Hình sự nghiên cứu tội phạm là nhằm cá thể hoá trách nhiệm hình sự. Do đó khi đề cập khái niệm tội phạm các nhà nghiên cứu đã lựa chọn cách tiếp cận vào các hành vi nguy hiểm do con người gây nên cho xã hội mà các hành vi này pháp luật hình sự cấm không được hành động. Vì vậy, Điều 8 Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1999 đã định nghĩa khái niệm tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [40]. Định nghĩa tội phạm trên đây là định nghĩa có tính khoa học thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm.
Định nghĩa này không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự mà còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể. Từ định nghĩa đầy đủ này, có thể định nghĩa tội phạm một cách khái quát như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. - Tội phạm, theo Luật Hình sự Việt Nam, phải là hành vi của con người. Những gì mới là tư tưởng, chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì không thể là tội phạm.
Chỉ qua hành vi của mình, con người mới có thể gây ra thiệt hại, gây ra sự nguy hiểm cho xã hội và những gì trong ý nghĩ, trong tư tưởng của con người cũng chỉ có thể được xác định qua chính những biểu hiện bên ngoài mà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 trước hết là qua chính hành vi của họ. Trong Luật Hình sự Việt Nam, sự xác nhận tội phạm chỉ có thể là hành vi được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản. Đó là “nguyên tắc hành vi”. Như vậy, hành vi được coi là tội phạm được phân biệt với hành vi không phải là tội phạm qua bốn dấu hiệu.
Đó là: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính chịu hình phạt. Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm. Hành vi nào đó sở dĩ bị quy định trong luật hình sự là tội phạm và phải chịu TNHS vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội. Nguy hiểm cho xã hội, về khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Đó là những quan hệ xã hội có tính tương đối quan trọng hoặc quan trọng và khi bị xâm hại có thể gây ra những thiệt hại hoặc những ảnh hưởng đáng kể cho điều kiện tồn tại và phát triển của chế độ XHCN. Những hành vi bị coi là tội phạm phải là những hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội đã được luật xác định. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không những là căn cứ để phân biệt hành vi phạm tội với những hành vi vi phạm khác mà còn là cơ sở để đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội và qua đó giúp cho việc cá thể hóa TNHS được chính xác. Tính có lỗi được nêu trong định nghĩa về tội phạm là dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải để tách tính có lỗi ra khỏi tính nguy hiểm cho xã hội mà để nhấn mạnh tính chất quan trọng của tính có lỗi.
Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Người bị coi là có lỗi khi người đó thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi ấy là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện quyết định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu đòi hỏi phải có ở hành vi bị coi là tội phạm. Việc quy định tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu của tội phạm không những là cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm cho quyền dân chủ của công dân bị xâm phạm bởi hành vi xử lý tuỳ tiện mà còn là động lực thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung, sửa đổi luật theo sát sự thay đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội.
Tính trái pháp luật hình sự tuy chỉ là dấu hiệu về mặt hình thức pháp lý, phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội của tội phạm nhưng vẫn có tính độc lập tương đối và có ý nghĩa quan trọng. Tính chịu hình phạt được coi là dấu hiệu của tội phạm vì nó được xác định bởi chính những thuộc tính khách quan bên trong của tội phạm. Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu biện pháp trách nhiệm là hình phạt, không có tội phạm thì cũng không có hình phạt. Tội phạm có tính chịu hình phạt có nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe dọa có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Như vậy, với định nghĩa và đặc điểm (dấu hiệu) của tội phạm nêu trên, nhà làm luật đã đưa ra khái niệm tội phạm dựa trên cơ sở những đặc tính pháp lý của từng hành vi cụ thể hoặc nhóm hành vi do những cá nhân nhất định thực hiện một cách có ý thức. Chính phương pháp nghiên cứu này của khoa học luật hình sự đã đưa ra một mô hình pháp lý hay chính là những quy phạm pháp luật hoàn chỉnh về các mối quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ và những hành vi ứng xử bắt buộc của con người. Do đó đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hình sự là hành vi của cá nhân con người. Vì vậy, phòng ngừa và điều tra tội phạm, trước hết là phòng ngừa những hành vi phạm tội và điều tra làm rõ quá trình diễn biến những hành vi phạm tội đã xảy ra để xác định có hay không có tội phạm xảy ra, người thực hiện hành vi phạm tội, trên cơ sở đó giúp cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biên pháp xử lý phù hợp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm phòng, chống tội phạm; đặc điểm đấu tranh phòng, chống tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới - Khái niệm phòng, chống tội phạm: Trong xã hội, nếu thừa nhận tội phạm là hiện tượng tiêu cực của xã hội thì cuộc đấu tranh chống tội phạm được coi là một điều tất yếu khách quan không thể thiếu được của mọi chế độ xã hội. Vấn đề ở chỗ, tại sao trong xã hội loài người lại tồn tại những hiện tượng tiêu cực xã hội, đặc biệt là tội phạm; làm thế nào để loại trừ chúng ra khỏi đời sống xã hội. Giải quyết vấn đề này liên quan đến nhiều biện pháp khác nhau.
Nhưng trước tiên, cần nhận thức được rằng, tội phạm là một hiện tượng xã hội, được sinh ra và tồn tại bởi xã hội mà gải quyết vấn đề tội phạm cũng phải mang tính xã hội. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, tội phạm xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp và hình thành nhà nước. Cho nên trong bất kỳ nhà nước nào (tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa) đều phải tiến hành đấu tranh chống tội phạm. Nhà nước XHCN, nếu so sánh với nhà nước tư bản, có nhiều tính ưu viết hơn, nhưng nhà nước XHCN, một mặt, vẫn đang tồn tại với tư cách là một nhà nước đúng nghĩa của nó.