Chương 1: Chính sách dân tộc về văn hóa và những nhân tố tác động đến chính sách dân tộc về văn hóa ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay. Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc về văn hóa ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay. Chương 3: Những quan điểm chỉ đạo và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách dân tộc về văn hóa ở Lạng Sơn hiện nay. 8 Footer Page 12 of 107.
Header Page 13 of 107. NỘI DUNG Ch ương 1 : CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VỀ VĂN HÓA VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VỀ VĂN HÓA Ở TỈNH LẠNG SƠN HIỆN NAY 1. Chính sách dân tộc về văn hóa 1. Chính sách dân tộc Theo Bách khoa toàn thư mở, chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó.
Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường. Theo từ điển Tiếng Việt thì chính sách: Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra. Theo Nguyễn Minh Thuyết, Phó chủ nhiệm ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên, thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp kế hoạch thực hiện. Cấu trúc của chính sách: Đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện.
Chủ thể ban hành chính sách: Chính đảng, cơ quan quản lý Nhà nước, đơn vị, công ty,… Vậy, ta có thể định nghĩa chính sách là tập hợp các chủ trương, các biện pháp khuyến khích đối tượng phụ thuộc vào chính sách nhằm đạt được mục đích của chủ thể ra chính sách. Hiện nay, khái niệm dân tộc thường được tiếp cận theo hai nghĩa: Nghĩa rộng, đó là khái niệm dân tộc – quốc gia và nghĩa hẹp là khái niệm dân tộc – tộc người. Khái niệm dân tộc – quốc gia (Nation) dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định, làm thành nhân dân một nước, có một lãnh thổ quốc gia, một nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có tâm lý chung biểu hiện 9 Footer Page 13 of 107. Header Page 14 of 107.
trong văn hóa của quốc gia dân tộc. Khái niệm dân tộc – tộc người (Ethnie) dùng để chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử với những đặc trưng cơ bản như có chung một ngôn ngữ tộc người, một bản sắc văn hóa tộc người và đặc biệt có ý thức tự giác tộc người. Thực tế cho thấy rằng, một cộng đồng dân tộc thường bao gồm nhiều cộng đồng tộc người với những yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, thậm chí yếu tố chủng tộc khác nhau. Vì vậy, khi xem xét vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc đòi hỏi phải nghiên cứu, phân tích từng cảnh huống sử dụng khái niệm một cách cụ thể.
Trong phạm vi của đề tài, tác giả chủ yếu sử dụng khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp: dân tộc – tộc người. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, thì dân tộc: Cộng đồng mang tính tộc người. Ví dụ: Tày, Nùng, Bana,… Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau, được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người. Vận dụng nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc.
Xuất phát từ đặc điểm tình hình các dân tộc và phát triển quan hệ dân tộc đáp ứng những nhiệm vụ chính trị cụ thể trong từng thời kì, từ khi thành lập đến nay và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề ra những chính sách dân tộc thích hợp trong hệ thống các chủ trương, chính sách chung. Do đó, đã góp phần thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân và đã giành nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong những năm đổi mới Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc hoạch định hệ thống chính sách đồng bộ trong đó có chính sách dân tộc. Các văn bản có tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn lớn đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, đó là Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (27/11/1989) về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi, đã 10 Footer Page 14 of 107.
Header Page 15 of 107. nêu quan điểm chỉ đạo rất quan trọng: “Phát triển kinh tế-xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân. Một mặt các địa phương miền núi có trách nhiệm góp phần thực hiện những chủ trương chiến lược của của đất nước. Mặt khác, việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách chung ở miền núi phải tính đầy đủ những đặc điểm tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục tập quán miền núi nói chung và của riêng từng vùng dân tộc, việc này cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò năng động, sáng tạo của địa phương và cơ sở”.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, chính sách dân tộc là bộ phận cấu thành của chính sách chung của một chính Đảng hay một Nhà nước nhằm vạch ra những nguyên tắc, biện pháp đối xử và giải quyết vấn đề dân tộc trong nước. Do vậy, chính sách dân tộc, trước hết, đó là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước. Nó thể hiện quan điểm chính trị của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc trong điều kiện hiện nay. Chính sách dân tộc bao gồm những chính sách có tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc nhằm mục đích phát triển các chính sách kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng ở các vùng dân tộc thiểu số, xây dựng khối đại đoàn kết giữa các dân tộc Việt Nam, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Chính sách dân tộc là những chính sách có đối tượng tác động trực tiếp là các dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc nhưng điều đó không có nghĩa là việc thực hiện chính sách dân tộc là việc riêng của các dân tộc thiểu số mà nó là chính sách chung đối với cả dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, nó liên quan đến tất cả mọi người, mọi chuyên ngành, mọi cấp từ trung ương đến địa phương. Chính sách dân tộc có nội dung, nhiệm vụ tương đối rộng và có mối quan hệ với rất nhiều chính sách khác, lĩnh vực khác. Là một bộ phận trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta, chính sách dân tộc gắn bó hữu cơ với tất cả các chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc 11 Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107.
phòng, chịu tác động của các chính sách chung, đồng thời nó cũng tác động trở lại với các chính sách đó. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc. Trong mỗi thời kì lịch sử, ở từng giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn đề ra những chủ trương, chính sách dân tộc thích hợp góp phần thắng lợi vào sự nghiệp to lớn của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, cách mạng nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước để tiến lên chủ nghĩa xã hội, vai trò của vấn đề dân tộc một lần nữa được Đảng và Nhà nước ta khẳng định: Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc luôn là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Chính sách dân tộc giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng dân cư đa dân tộc của một quốc gia theo quan điểm của giai cấp nắm quyền. Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản là một hệ thống chủ trương, giải pháp lớn nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc trong đó có sự quan tâm đến các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển kinh tế thấp. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đảm bảo phát huy sức mạnh của cả dân tộc và bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc, giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích giữa các dân tộc, làm cho các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu Chính sách dân tộc ở nước ta là hệ thống các chính sách của Đảng và Nhà nước tác động đến mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc, trên cơ sở đảm bảo nguyên tác cơ bản là: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Nguyên tắc cơ bản trên, một mặt quyết định đến phương hướng của chính sách dân tộc, mặt khác thể hiện bản chất nhân văn của chính sách dân tộc ở nước ta. Các yếu tố của nguyên tắc này có mối quan hệ biện chứng, tác động, quan hệ chặt chẽ với nhau. Chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay không chỉ đề cập những nội dung xuyên suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã 12 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107.
hội mà còn đề cập đến những vấn đề cụ thể của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Chính sách dân tộc về văn hóa Trên thế giới, có hơn 400 khái niệm về văn hóa theo những cách tiếp cận khác nhau. Theo từ điển Tiếng việt, Văn hóa là: 1.Những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử.Đời sống tinh thần của con người.Tri thức khoa học, trình độ học vấn.Lối sống, cách ứng xử với trình độ cao, biểu hiện văn minh.Nền văn hóa một thời kỳ lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung.