phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại dịch vụ. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại dịch vụ trên địa bàn quận Hoàng Mai. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại dịch vụ trên địa bàn quận Hoàng Mai. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THƢƠNG MẠI, DỊCH VỤ 1.
Khái quát chung về thƣơng mại, dịch vụ 1. Một vài khái niệm liên quan đến thương mại, dịch vụ 1. Khái niệm về thương mại Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thƣơng mại dịch vụ. Thuật ngữ thƣơng mại, tiếng Anh là “Commerce”, ngoài ra còn có thuật ngữ khác là Trade, tiếng Pháp “Commerce”, tiếng Latinh “Commercium”,.
về cơ bản các từ này đều đƣợc hiểu là buôn bán hàng hóa với mục đích sinh lợi. Có nhiều cách tiếp cận khi nghiên cứu về dịch vụ nên cũng có nhiều cách tiếp cận khi nghiên cứu về thƣơng mại dịch vụ. Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, thƣơng mại dịch vụ đƣợc tiếp cận dƣới góc độ là đối tƣợng hoạt động trao đổi (mua, bán) của thƣơng mại. Luật Thƣơng mại của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: Hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động sinh lợi khác.
Thƣơng mại là một phạm trù kinh tế ra đời và tồn tại gắn liền với sự ra đời và tồn tại của kinh tế hàng hóa. Thƣơng mại là hình thức phát triển cao của trao đổi hàng hóa và lƣu thông hàng hóa. Thƣơng mại xuất hiện khi lƣu thông hàng hóa trở thành chức năng độc lập không phụ thuộc vào sản xuất. Theo nghĩa bao trùm nhất, thƣơng mại là tổng hợp mọi hành vi mua bán của xã hội, tất cả các hành vi, những hoạt động đầu tƣ để đáp ứng nhu cầu nào đó của xã hội nhằm mục đích sinh lời đều là hoạt động thƣơng mại.
Nhƣ vậy 8 khái niệm thƣơng mại đƣợc hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, thƣơng mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng. Thƣơng mại đồng nghĩa với kinh doanh đƣợc hiểu nhƣ là hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trƣờng. Theo nghĩa hẹp, thƣơng mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trƣờng, là lĩnh vực phân phối và lƣu thông hàng hóa.
Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vƣợt ra khỏi biên giới quốc gia thì ngƣời ta gọi đó là ngoại thƣơng (kinh tế quốc tế). Trong lĩnh vực thƣơng mại, ngoài ngành phân phối là ngành chuyên cung cấp các dịch vụ mua bán hàng hóa hữu hình gồm bán buôn và bán lẻ, còn có các ngành thƣơng mại dịch vụ chuyên đảm nhận việc cung ứng dịch vụ cho thị trƣờng thông qua các hoạt động thƣơng mại vì mục đích lợi nhuận (hiện nay theo phân loại của WTO, lĩnh vực thƣơng mại dịch vụ đƣợc phân thành 12 ngành, trong đó có 155 tiểu ngành dịch vụ khác nhau).[11] Nhƣ vậy, có thể hiểu một cách khái quát thƣơng mại là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hóa và dịch vụ. Trong ngành thƣơng mại có 3 lĩnh vực chính, đó là thƣơng mại hàng hóa, thƣơng mại dịch vụ và thƣơng mại đầu tƣ. Trong hoạt động thƣơng mại có các hoạt động hỗ trợ nhƣ xúc tiến thƣơng mại, dịch vụ thƣơng mại.
Khái niệm về dịch vụ C.Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lƣu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời thì dịch vụ phát triển”. Nhƣ vậy, bằng cách tiếp cận dƣới góc độ kinh tế, C.Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ. Vào những năm cuối thế kỷ 20, dịch vụ đã trở thành động lực phát triển 9 kinh tế quan trọng của các quốc gia, cho nên nó cũng trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành học nhƣ: kinh tế học, văn hóa học, hành chính học, luật học, khoa học quản lý. Do vậy có rất nhiều quan điểm, khái niệm về dịch vụ theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau.
Có quan điểm cho rằng: - Theo nghĩa rộng: Dịch vụ đƣợc coi nhƣ là một ngành kinh tế thứ ba, vậy thì theo cách hiểu này bất kỳ một hoạt động kinh tế nào nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều đƣợc coi là thuộc ngành dịch vụ nhƣ các ngành hàng không, thông tin, vận tải biển, ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục. - Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là phần mềm của sản phẩm, là lợi ích mà khách hàng nhận đƣợc trƣớc, trong và sau khi mua sản phẩm phù hợp với quy cách và giá cả mà khách hàng đã thỏa thuận với nhà cung cấp. Có quan điểm khác lại cho rằng: - Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dƣới dạng hình thái vật thể. Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, đến môi trƣờng của từng quốc gia, từng khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung.
Dịch vụ không chỉ bao gồm những lĩnh vực truyền thống nhƣ: vận tải, du lịch, thƣơng mại, ngân hàng, bƣu điện, truyền thông liên lạc, kinh tiêu, tài chính mà dịch vụ còn lan tỏa đến các khu vực rất mới nhƣ: bảo vệ môi trƣờng, văn hóa, thể thao, giải trí, hành chính, dịch vụ cá nhân, tƣ vấn pháp luật, kiểm toán, tƣ vấn tình cảm. - Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là làm một công việc cho ngƣời khác hay cộng đồng, là một việc mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của con ngƣời nhƣ: vận chuyển, cung cấp nƣớc, đón tiếp, sửa chữa và bảo dƣỡng các thiết bị máy móc hay công trình. 10 Một định nghĩa khác cho rằng: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với các sản phẩm vật chất.
Chẳng hạn khi thuê phòng ở khách sạn, gửi tiền vào ngân hàng, đi du lịch bằng máy bay, đi khám bệnh, đƣa ô tô đi sửa chữa, đi xem trận đấu bóng đá, xin ý kiến tƣ vấn của luật sƣ. trong tất cả các trƣờng hợp này ta đều có đƣợc một dịch vụ. Nhƣ vậy có thể đi đến một khái niệm dịch vụ theo một cách chung nhất: Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội; là một khâu của quá trình sản xuất, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dƣới hình thái vật thể bởi sự tƣơng tác của ba yếu tố là lao động, đối tƣợng lao động và khách hàng (ngƣời sử dụng dịch vụ) mà không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con ngƣời. Tuy nhiên, việc quan niệm theo nghĩa rộng hẹp khác nhau về dịch vụ không những tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể mà còn tùy thuộc vào phƣơng pháp luận kinh tế của từng quốc gia.
Những quan niệm khác nhau sẽ ảnh hƣởng khác nhau tới chất lƣợng dịch vụ, ảnh hƣởng đến quy mô, tốc độ phát triển dịch vụ cũng nhƣ tốc độ tăng trƣởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc điểm thương mại dịch vụ 1. Đối tượng hoạt động thương mại, dịch vụ là các sản phẩm phi vật thể Trong thƣơng mại dịch vụ do đối tƣợng hoạt động thƣơng mại là những sản phẩm phi vật thể nên khách hàng không thể sờ thấy, nhìn thấy trƣớc khi mua. Điều này làm cho quá trình mua bán mang tính rủi ro cao hơn so với mua bán các hàng hoá hữu hình.Do đó ngƣời cung ứng dịch vụ càng phải cố gắng “hữu hình” hoá sản phẩm càng tốt, cũng nhƣ nâng cao khả năng cung ứng đáp ứng kịp thời nhu cầu của ngƣời tiêu dùng.
Ngƣợc lại, ngƣời mua 11 thƣờng căn cứ vào danh tiếng, uy tín của hãng hoặc cá nhân ngƣời cung ứng để đi đến quyết định mua. Cũng do tính chất vô hình của sản phẩm dịch vụ. Trong mua bán dịch vụ không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu từ ngƣời bán sang ngƣời mua. Bên cạnh đó gây khó khăn trong việc cấp bằng sáng chế và quyền sở hữu các sáng kiến cải tiến dịch vụ nên các dịch vụ dễ bị sao chép , bắt chƣớc.
Chủ thể hoạt động thương mại dịch vụ Các chủ thể tham gia trao đổi, mua bán trong thƣơng mại dịch vụ gồm ngƣời bán (cung ứng) và ngƣời mua (tiêu dùng) một dịch vụ. Ngƣời cung ứng dịch vụ đƣợc hiểu là bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào cung ứng một dịch vụ, có thể đó là Chính phủ, các tổ chức xã hội, đoàn thể, doanh nghiệp hoặc các cá nhân. Ngƣời tiêu dùng dịch vụ là bất kỳ tổ chức hay cá nhân có nhu cầu về một dịch vụ để thoả mãn nào đó, có thể đó là các doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình, Chính phủ hoặc các tổ chức xã hội. Đặc điểm cung cầu dịch vụ Tính chất “cứng” của cung dịch vụ: Điều này xuất phát từ tính đồng thời của dịch vụ nên đòi hỏi các nhà cung cấp dịch phải luôn sẵn sàng khả năng cung ứng khi có nhu cầu tai nơi và thời điểm cầu xuất hiện.
Trong thƣơng mại dịch vụ khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ cao nhất phụ thuộc vào công suất tối đa của các cơ sở sẵn có cung ứng dịch vụ cho khách hàng.Do đó cung dịch vụ tƣơng đối cố định và giới hạn khả năng cung ứng. Tính không ổn định và tính thời vụ của cầu: Cầu dịch vụ thƣờng không ổn định, dễ biến động bởi chúng chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố luôn biến đổi rất nhạy cảm. Lƣợng cầu dịch vụ thƣờng hay tập trung rất cao vào một số thời điểm trong một ngày, một tháng hay một số tháng và ở thời điểm khác 12 lƣợng cầu lại rất nhỏ. Đây là tính thời vụ của dịch vụ.Bên cạnh đó cầu của một số loại dịch vụ lại không có giới hạn bởi nhu cầu không ngừng gia tăng của thị trƣờng.