CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Một số khái niệm về quản lý nhà nước về thu hút nguôn nhân lực chất lượng cao trong cơ quan hành chính nhà nước 1. Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay, phát triển bền vững được xác định là chiến lược ưu tiên hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Một trong những cơ sở, nền tảng quan trọng nhất để thực hiện chiến lược phát triển đó là nguồn lực con người.
Nhận thức rõ vai trò to lớn của nguồn lực con người, trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh đến nguồn lực con nguời, coi đó là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trong phạm vi Luận văn này, chúng ta có thể hiểu khái niệm “nguồn nhân lực” (human resources) như là “nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực con người” vì “nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “nguồn nhân lực”; theo đó, các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã đề cập đến khái niệm này với nhiều góc độ khác nhau. - Trên bình diện quốc tế, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu và xác định như sau: theo Liên hợp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [55]; theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và 7 đạo đức của người lao động” [79]; theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [52]. - Tại Việt Nam, khái niệm nguồn nhân lực cũng được nhiều tác giả xác định; cụ thể: GS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [39, tr. Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.
Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” [29, tr.
Còn trong giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” [65]. Mặc dù có nhiều cách biểu đạt khác nhau như trên, nhưng tựu trung lại thì 8 các khái niệm về nguồn nhân lực đều thống nhất rằng nguồn nhân lực dùng để chỉ sức người gồm cả khả năng và phẩm chất tham gia vào lao động sản xuất. Theo đó, con người với tư cách là yếu tố chính cấu thành lực lượng sản xuất, nguồn lực con người cũng là nguồn lực cơ bản và vô tận của sự phát triển nên không thể xem xét một cách qua loa hay chỉ đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà yếu tố con người cần phải là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng với những tiềm năng, sức mạnh của các thế hệ con người trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Với cách hiểu này thì nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển.
Nguồn nhân lực được cấu thành từ các yếu tố: số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá; điều quan trọng nhất trong nguồn nhân lực không phải là số lượng mà là chất lượng. Theo quan niệm của xã hội hiện đại thì chất lượng nguồn nhân lực phải bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách được kết hợp lại với nhau. Ngoài ra, để tạo nên một nguồn nhân lực còn cần phải có kinh nghiệm sống, nhu cầu và thói quen vận dụng các tri thức tổng hợp cùng kinh nghiệm sống của cá nhân, cộng đồng vào các hoạt động vật chất như hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm. Với ý nghĩa như vậy thì nguồn nhân lực là toàn bộ sự phong phú, sâu sắc của năng lực trí tuệ và năng lực thực hành, của kỹ năng tổ chức và quản lý cùng với tính tháo vát và phản ứng nhạy bén trước mọi hoàn cảnh.
Những năng lực kể trên chỉ xuất hiện khi con người đã có cơ sở của học vấn, kinh nghiệm, các quan hệ xã hội mở rộng, sự sàng lọc và tiếp thu tinh tế những ảnh hưởng đến từ nền văn hóa truyền thống của gia đình đến xã hội, từ quốc gia cho tới cộng đồng khu vực và quốc tế vì lúc này nguồn nhân lực được xem xét trên cả hai phương diện: cá nhân và xã hội. Như vậy, khi xem xét về cấu trúc nguồn nhân lực, đầu tiên, chúng ta cần tính đến phương diện cá thể của nó bao gồm ba yếu tố: thể lực, trí tuệ 9 và đạo đức, ba yếu tố này cấu thành chất lượng cá thể của nguồn nhân lực và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Từ những luận điểm đã trình bày trên, có thể rút ra định nghĩa khái quát về nguồn nhân lực như sau: “Nguồn nhân lực là tổng thể hòa các yếu tố thể lực, trí lực và đạo đức của con người được kết tinh bởi truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất, từ đó tạo nên chất lượng lao động (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) và phẩm chất lao động (thái độ, tác phong, phong cách làm việc) của lực lượng lao động trong tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế – xã hội nhất định đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển và tiến bộ của xã hội”. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Để có thể hiểu về NNLCLC, chúng ta cần tìm hiểu cụ thể hơn về nội hàm của khái niệm này thông qua việc tìm hiểu về các thuật ngữ có liên quan đến nó.
* Tiếp cận qua các thuật ngữ phổ thông Trong đời sống hàng ngày, NLCLC thường được gọi là nhân tài hay là người có tài năng; ngoài ra, còn có các thuật ngữ có liên quan như thiên tài, hiền tài,… Theo Từ điển Hán ngữ hiện đại, “Nhân tài là người có tài năng và đạo đức; có một sở trường nào đó” [78]; tác giả Nguyễn Đắc Hưng và Phan Xuân Dũng định nghĩa nhân tài “là những người có tài năng, năng lực vượt trội ở lĩnh vực nào đó: kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học. và có đóng góp cho xã hội” [53]; Theo PGS.TS Đức Vượng thì “Nhân tài phải là những người có tài năng xuất sắc, có những cống hiến về lý luận kinh tế, khoa học kỹ thuật, tài lãnh đạo, quản lý nổi trội hơn những người bình thường”. Như vậy, hiểu theo nghĩa thông thường thì thuật ngữ “nhân tài” được sử dụng để chỉ những người có trình độ cao, có năng lực, uy tín trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. Từ điển Bách khoa Việt Nam đã định nghĩa các khái niệm “năng lực”, “tài năng” và “thiên tài” như sau: - Năng lực là “đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó.
Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính 10 cách của cá nhân. Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lý của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người”. - Tài năng “là sự kết hợp hoàn thiện nhất các năng lực nhất định đối với một hoạt động nhất định, giúp con người đạt được những thành tựu xuất sắc, mới mẻ, có ý nghĩa xã hội. Tài năng biểu thị chất lượng cao của năng lực, có thể biểu hiện trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, thông qua đào tạo chu đáo và luyện tập công phu, hoạt động thực tiễn phong phú, phát triển tối đa các tố chất tương ứng” [67, tr.