phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn có bố cục gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao tại các trường đại học trong bối cảnh cuộc CMCN 4. Thực trạng công tác thu hút nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao của các trường đại học Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh CMCN 4. Giải pháp thu hút nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao của ĐHQGHN trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 12 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN CHẤT LƢỢNG CAO TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌCTRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƢ 1.
Khái niệm chung về nhân lực KH&CN chất lƣợng cao Trong các công trình nghiên cứu và ấn phẩm khoa học công bố, nhân lực KH&CN có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Mỗi quốc gia lại có một quan niệm riêng về thuật ngữ này phù hợp với sự phát triển đường lối xây dựng đất nước của họ. Tuy nhiên, có hai quan niệm được thống nhất và sử dụng rộng rãi trong một số lượng lớn các quốc gia là quan niệm của UNESCO và quan niệm của OECD. Các khái niệm này được TS.
Hồ Ngọc Luật (2017) tổng hợp và phân tích chi tiết trong các nghiên cứu khoa học, cụ thể như sau: 1. Khái niệm của UNESCO Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN đã được Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đề xuất sử dụng từ những năm 80 của thế kỷ XX, với tên gọi là “Tổng nhân lực có trình độ chuyên môn” (The total stock of qualified manpower). Theo đó tổng nhân lực có trình độ chuyên môn của một quốc gia/vùng lãnh thổ bao gồm những người có đủ trình độ chuyên môn như đối với các “nhà khoa học và kỹ sư” và “kỹ thuật viên” không phân biệt lĩnh vực hoạt động, tuổi, giới tính, dân tộc … có mặt tại quốc gia/vùng lãnh thổ trong một thời điểm nhất đ nh. Trong đó các nhà khoa học và kỹ sư hay kỹ thuật viên được đ nh nghĩa như sau: (1) Nhà khoa học và kỹ sữ: là người có năng lực phù hợp tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN nhằm tạo ra những tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới.
Trong đó người có “năng lực phù hợp” là người có thể đạt được một trong 3 tiêu chí sau: - Có trình độ đại học trở lên (tương ứng với trình độ từ bậc 6 trở lên theo Phân loại quốc tế về giáo dục và đào tạo); 13 z - Có trình độ cao đẳng (tương ứng với trình độ bậc 5) nhưng được công nhận về mặt chuyên môn như một nhà chuyên môn bậc cao; - Có trình độ học vấn hoặc đạt được trình độ chuyên môn mà được công nhận tương đương một trong hai tiêu chí ở trên. (2) Kỹ thuật viên: là người tham gia hoạt động KH&CN và có trình độ trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề trở lên. Kỹ thuật viên là người thỏa mãn một trong ba tiêu chí sau: - Tốt nghiệp trung học phổ thông (bậc 3) và sau đó được đào tạo 1-2 năm chuyên về kỹ thuật; - Tốt nghiệp trung học cơ sở (bậc 2) và được đào tạo về kỹ thuật hoặc nghề ít nhất 3 năm; - Được đào tạo tại chức hoặc tự có được trình độ chuyên môn được công nhận tương đương với một trong hai tiêu chí nêu trên. Cùng với khái niệm “Tổng nhân lực có trình độ chuyên môn” UNESCO còn đề xuất khái niệm “Nhân lực có trình độ chuyên môn đang làm việc” (Number of economically active qualified manpower) để đo lường nhóm nhân lực có trình độ chuyên môn thực sự đang làm việc, hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Nhân lực có trình độ chuyên môn đang làm việc bao gồm những người có đủ trình độ như đối với các “nhà khoa học và kỹ sư” hoặc “kỹ thuật viên” đang làm việc hoặc tìm việc làm, tại một thời điểm nhất đ nh. Quan điểm của UNESCO về hai khái niệm này là: “Tổng nhân lực có trình độ chuyên môn” cần phải được xem xét như một đại lượng đo bởi qua đó có thể biết được tổng số những người được đào tạo để có năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ sư bất kể hiện tại họ có làm việc theo năng lực này hay không. Nói cách khác đại lượng này thể hiện cho tiềm năng của một quốc gia về nhân lực KH&CN. Tổng số nhân lực có trình độ chuyên môn chính là chỉ số nhân lực KH&CN.
14 z “Nhân lực có trình độ chuyên môn đang làm việc” phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc là làm trong lĩnh vực KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất nước. Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác chính là chỉ số nhân lực nghiên cứu và triển khai (NC&TK). Trên cơ sở này UNESCO đã đưa ra sự phân biệt tương đối giữa các khái niệm nhân lực trong lĩnh vực KH&CN nói chung như sau: Nhân lực trong lĩnh vực KH&CN không đơn giản là phép tính cộng tổng đầu người, mà bên cạnh việc đếm đầu người cần phải tính đến yếu tố khác như: Quy đổi tương đương thời gian làm việc đầy đủ (Full-Time Equivalent FTE) và các đặc trưng của họ. Khái niệm của OECD Trong cuốn Sổ tay Canberra năm 1995 Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đề xuất phương pháp luận đánh giá nhân lực KH&CN theo đó “Nguồn nhân lực KH&CN” (human resources in science and technology viết tắt là HRST) của một quốc gia/vùng lãnh thổ bao gồm toàn bộ những người hoàn thành bậc giáo dục đại học (tertiary level of education) (tương ứng bậc 5-8 theo Phân loại quốc tế về giáo dục và đào tạo) hoặc những người tuy chưa được đào tạo chính quy như trên nhưng làm một nghề thuộc chuyên ngành KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương bậc 5-8.
Như vậy, nguồn nhân lực KH&CN bao gồm nhân lực: (1) hoặc có trình độ cao đẳng trở lên (2) hoặc làm một nghề thuộc chuyên ngành KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương cao đẳng trở lên (gọi tắt là nghề thuộc HRST). Theo OECD, một người có trình độ bậc 5-8 thì đương nhiên thuộc nguồn nhân lực KH&CN mà không cần phân biệt người đó làm nghề gì. Ở khía cạnh khác, một người làm nghề thuộc HRST thì người đó thuộc HRST cho dù chưa có trình độ bậc 5-8; và nếu khi người đó không làm nghề đó nữa, hoặc nghỉ hưu hay trở thành thất nghiệp thì người đó cũng không thuộc nguồn nhân lực KH&CN nữa. 15 z Đây chính là khái niệm nhân lực KH&CN theo nghĩa rộng.
Theo đó có thể hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp đại học nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN tương đương với khái niệm “Tổng nhân lực có trình độ chuyên môn” của UNESCO. Khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia. Do vậy các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu và triển khai (NC&TK), hay còn gọi là R&D (research and development) để thể hiện lực lượng lao động KH&CN của mình. Theo Hướng dẫn thống kê NC&TK của OECD (Cẩm nang FRASCATI), nhân lực NC&TK bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động NC&TK hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động NC&TK.
Nhân lực NC&TK được chia thành 3 nhóm: - Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu). Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới. - Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương. Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN.
Họ tham gia vào NC&TK bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu. - Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp NC&TK. Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án NC&TK. Trong nhóm này bao gồm cả những người 16 z làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc NC&TK của các tổ chức NC&TK.
Quan hệ giữa nhân lực KH&CN và nhân lực NC&TK có thể được thể hiện trên hình 1.1 trong đó có thể nhìn thấy nguồn nhân lực NC&TK chỉ là một phần của nguồn nhân lực KH&CN (HRST): Nhân lực NC&TK Nhân lực KH&CN (HRST) Nhân lực có trình độ chuyên môn đang làm việc trong nền kinh tế - xã hội Tổng số nhân lực KH&CN (tiềm năng) Hình 1.1: Quan hệ giữa nhân lực KH&CN và nhân lực NC&TK Nguồn: Cục Thông tin KH&CN quốc gia, 2005 1. Khái niệm đang được sử dụng hiện nay ở Việt Nam Trong hoạch đ nh chính sách và chiến lược phát triển KH&CN của quốc gia, bên cạnh những dữ liệu ban đầu cần thiết như: hiện trạng các ngành kinh tế trình độ công nghệ trong các ngành lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên … thì nhu cầu thông tin về tổng số nhân lực có trình độ chuyên môn (theo UNESCO) hay nguồn nhân lực KH&CN (theo OECD) tại một thời điểm nhất đ nh của quốc gia trong đó thông tin về nhân lực có trình độ chuyên môn hoạt động KH&CN, hay nhân lực có trình độ chuyên môn hoạt động NC&PT, hoặc như nhân lực KH&CN chất lượng cao là không thể thiếu được. Hiện nay, tại Việt Nam chưa có một đ nh nghĩa thống nhất nào về nhân lực KH&CN được đưa ra chính thức đặc biệt các khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN, nhân lực KH&CN chất lượng cao, trình độ cao.