Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về thi đua Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm về thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị [14]; coi thi đua yêu nước là biểu hiện của lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam. Thi đua yêu nước là cốt cách, phẩm chất đạo đức của người Việt Nam yêu nước. Người đã khởi xướng việc tổ chức các phong trào thi đua trên các lĩnh vực đời sống xã hội ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam giành được chính quyền sau Cách mạng tháng Tám và bắt tay vào xây dựng chế độ xã hội mới, trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài đều muốn thủ tiêu chế độ mới đó, Người đã làm cho thi đua yêu nước trở thành một phương pháp cách mạng mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
Ngày 11 tháng 6 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho Đảng Nhà nước ta lần đầu tiên chính thức phát động phong trào Thi đua ái quốc. Người khẳng định rõ: “Hễ là người Việt Nam yêu nước thì phải thi đua, thi đua là yêu nước. Thi đua là một cách yêu nước thiết thực nhất, những người thi đua là những người yêu nước nhất” [16]. Người lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta liên tục phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước - Làm cho các phong trào thi đua yêu nước phát triển hết sức mạnh mẽ và đã động viên, thu hút tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, các nhân sĩ, trí thức tham gia.
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 quy định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Như vậy, Thi đua là hoạt động có tổ chức được cá nhân hoặc tập thể tham gia một cách tự nguyện và không ngừng phấn đấu để đạt được kết quả tốt nhất theo đúng mục tiêu, nhiệm vụ mà tổ chức đã đề ra, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với khái niệm như trên, thi đua bao hàm các nội dung sau: Thi đua là hoạt 8 động có tổ chức với các nhiệm vụ chủ yếu như lập kế hoạch, xác định mục tiêu, hình thức, đối tượng, tổ chức phát động, ký giao ước thi đua, kiểm tra đôn đốc, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến. có sự tham gia của tổ chức Đảng, các đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội.
Người phát động phong trào thi đua là người có thẩm quyền được quy định trong Luật thi đua, khen thưởng. Nội dung thi đua được thực hiện theo quy định và khi tặng danh hiệu thi đua phải dựa trên cơ sở tiêu chuẩn cụ thể. Đó là điểm khác nhau giữa thi đua tự phát và thi đua có tổ chức quản lý. Thi đua là một hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện của mỗi cá nhân, tập thể; chỉ khi có tập thể cùng nhau hoạt động trên tinh thần tự nguyện thì thi đua mới có ý nghĩa.
Thi đua là một hoạt động có mục tiêu, định hướng rõ ràng nhằm thu được kết quả thành tích tốt nhất. Tác giả đồng tình với khái niệm này và sử dụng là công cụ lý luận để giải quyết luận văn. Khái niệm về khen thưởng Khen thưởng là khái niệm được tiếp cận ở nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng qua từng thời kỳ khác nhau. Khen thưởng được hiểu chung là việc làm của một cá nhân, tổ chức một cách chính thức đối với đối tượng có thành tích nào đó.
Trong lịch sử đất nước, việc khen thưởng thường diễn ra rất đa dạng như: Khen thưởng người có công trong chiến trận, người có công trong việc đi sứ, người phò tá có công lao tài đức, người tiến cử người hiền tài, người có lời tâu đúng, người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên, người có công làm thuỷ lợi, người có tài văn chương, người cao tuổi [15]. Đối tượng khen thưởng rất rộng, từ người già đến trẻ em (từ 11 tuổi), từ nam giới đến phụ nữ, từ người Kinh đến người dân tộc thiểu số đều được khen thưởng. Hình thức khen thưởng cũng rất đa dạng. Nếu còn sống người được khen thưởng có thể nhận được một trong các hình thức: Được ban họ vua (Quốc thính), được ghi công vào sử sách, được vẽ hình, được dựng bia ghi công, được phong chức, được thưởng vàng bạc, được cấp ruộng đất.
Nếu người có công đã mất thì vua đích thân làm văn tế, giảm ăn, nghỉ coi trầu một số ngày, truy phong, truy tặng hoặc gửi vàng bạc, lụa để viếng, phong quan chức cho con, cấp ruộng cho con cháu thờ cúng [15]. 9 Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc khen thưởng, Người nêu rõ: “Thưởng phạt phải nghiêm minh, có công thì thưởng, có lỗi thì phạt; có công mới có huân, phải có công huân mới được thưởng huân chương, thưởng cái nào đích đáng cái ấy khen thưởng phải có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương”[14]. Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Quốc lệnh 10 điều thưởng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, gồm: 1) Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ được thưởng; 2) Ai lập được quân công sẽ được thưởng; 3) Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng; 4) Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng; 5) Ai làm việc một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng; 6) Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc, được dân chúng mến phục sẽ được thưởng; 7) Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng; 8) Ai bắt được những kẻ phản quốc sẽ được thưởng; 9) Ai liều mình về công việc sẽ được thưởng; 10) Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng [14]. Mười điều khen thưởng trong Quốc lệnh này chính là nền tảng tư tưởng, nguyên tắc pháp lý chỉ đạo việc khen thưởng trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước và trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường nhắc cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”[14]. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần lượt ký các Sắc lệnh thành lập Viện Huân chương năm 1947, Sắc lệnh đặt ra các Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sĩ, Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập năm 1947. Huân chương Kháng chiến năm 1948, Huân chương Lao động năm 1950. Chính phủ cũng đã quy định các danh hiệu Anh hùng Quân đội, Anh hùng Nông nghiệp, Anh hùng Công nghiệp năm 1952 để khen thưởng kịp thời những cá nhân và đơn vị có thành tích trong cuộc kháng chiến kiến quốc.
Từ thực tiễn lịch sử trên đây, khen thưởng được hiểu là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để nhận xét, đánh giá về một tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc, có công đối với đất nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định. 10 Tại Khoản 2, Điều 3, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013 có định nghĩa về khái niệm khen thưởng như sau: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [20]. Tác giả đồng tình với khái niệm này và sử dụng là công cụ lý luận để giải quyết luận văn. * Mối quan hệ thi đua và khen thưởng Thi đua là cơ sở của việc khen thưởng cũng chính là nền tảng của phong trào thi đua yêu nước sôi nổi mới có thể lựa chọn những cá nhân, tập thể tiêu biểu nhất, xứng đáng nhất, đầy đủ và kịp thời nhất cho việc khen thưởng.
Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời lại có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục. Khen thưởng cần phản ánh đúng phong trào thi đua. Thưởng, phạt chính là một công cụ quản lý của Nhà nước. Nhà nước thưởng phạt nghiêm minh là nhà nước mạnh.
Nếu thi đua là cở sở để khen thưởng thì khen thưởng được xem là đòn bẩy để khuyến khích các phong trào thi đua phát triển. Tuy nhiên không nên hiểu rẳng thi đua chỉ vì mục đích khen thưởng, nếu thi đua chỉ vì khen thưởng thì mục đích của thi đua sẽ bị hạn chế, mà cần hiểu rằng khen thưởng chỉ là sự khuyến khích, động viên tinh thần đối với những thành tích của cá nhân, tập thể qua quá trình phấn đấu lao động và sáng tạo. Đó là sự công bằng của tổ chức trong việc quản lý con người, đối với những cá nhân có nhiều đóng góp cho xã hội. Trong quan điểm về thi đua, khen thưởng Bác đã chỉ rõ “Thi đua, khen thưởng là công tác động viên chính trị, giáo dục tư tưởng, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đều là động lực phát triển xã hội theo hướng tốt đẹp hơn” [14].
Đồng thời, muốn thi đua, khen thưởng trở thành động lực tích cực trong quá trình phát triển thì thi đua phải có sự lãnh đạo đúng. Thi đua mà không có sự lãnh đạo, tổ chức, thì thường nảy sinh chia rẽ, ganh tỵ, ghét bỏ nhau, có thể làm những người tham gia thi đua nản lòng. Tránh hiện tượng các cá nhân, tập thể tham gia thi đua mà chia rẽ, chỉ biết đến lợi ích của cá nhân mình mà không quan tâm đến lợi ích 11 của người khác, lợi ích của tập thể. Tránh tư tưởng anh hùng cá nhân, vì thành tích cá nhân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch” [14].