Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về thể dục thể thao. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thể dục thể thao tại tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về thể dục thể thao tỉnh Đắk Lắk. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THỂ DỤC THỂ THAO 1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn 1. Khái niệm thể dục thể thao Muốn hiểu được khái niệm thể dục thể thao, cần xác định rõ nguồn gốc của TDTT. TDTT ra đời cùng với sự ra đời của xã hội loài người, dưới sự tác động của môi trường và mối quan hệ cộng đồng, đòi hỏi phải đấu tranh sinh tồn vì cuộc sống như đi, đứng, chạy, nhảy. Đây là nhân tố khách quan và ý thức chủ quan (săn, bắn, hái, lượm.), luôn gắn chặt với lao động sản xuất để tồn tại.
TDTT như là một bộ phận nền văn hóa chung của loài người. Thời kỳ đầu sử dụng các công cụ thô sơ. Qua thời gian, họ biết phối hợp các hành vi vận động của từng cá nhân làm tăng vị thế và uy lực, GDTC được phát triển thông qua các bài tập sức mạnh, nhanh, bền, mềm d o, khéo. Sự kiên trì và nỗ lực ý chí đã khắc phục môi trường xung quanh, nâng cao ý thức tập thể, tính phối hợp đồng đội dẫn đến hình thành tổ nhóm.
Trong các tài liệu khảo cổ học đã chứng minh rằng: “Trang bị kỹ thuật kém cỏi của con người ở thời kỳ đồ đá đã buộc họ phải hành động tập thể…”. Năng lực tư duy được nâng lên, có sự phối hợp, hiệp đồng, lập kế hoạch hành động, chuần bị, phân công. Ở thời kỳ này, bản chất tự nhiên của con người được đặt lên hàng đầu, vì họ không chú trọng nhiều đến sự thay đổi của thế giới tự nhiên bên ngoài, mọi hành động chỉ để đối phó, khắc phục với điều kiện môi trường sống hiện tại thông qua kinh nghiệm tích luỹ. Từ đó hình thành các k năng giao tiếp thông thường đến chuyên môn hoá sâu, đó là giáo dục thể chất (tự hoàn thiện, tự thích nghi); Các bài tập thể chất ra đời, phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người, nó trở thành nhu cầu để củng cố, nâng cao năng xuất lao động và hoàn thiện thể chất.
11 Theo tác giả Nông Minh Đức “Thể dục thể thaolà bộ phận của nền văn hóa xã hội, một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa và giáo dục con người phát triển , cân đối hợp lý”[12, tr.Theo quan niệm này TDTT có đặc trưng sau: 1) Do sự vận động tích cực của con người; 2) Những thành tựu về vật chất, tinh thần và thể chất do xã hội tạo nên; 3) Tác động đến thể chất của con người; 4) Gắn liền với lịch sử phát triển của từng địa phương, quốc gia, thế giới. Thể dục là sự giáo dục cơ thể, thần kinh, tinh thần. Thể dục chính là giáo dục thể chất, một mặt của giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, mỹ dục, thể dục [53, tr. Thể thao là những hoạt động nhằm nâng cao thể lực của con người, thường được tổ chức thành những hình thức trò chơi, thi đấu theo những quy tắc nhất định [34,tr.
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hoá chung của nhân loại, bao gồm những giá trị do con người sáng tạo ra nhằm hoàn thiện về thể chất của con người được gọi là văn hóa thể chất. Bao gồm hệ thống những nguyên lý (lý luận khoa học), và phương pháp (thực hành) rèn luyện sức khỏe của con người [53, tr. TDTT là bộ phận của nền văn hóa xã hội, một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực tất cả những hoạt động thể chất của cơ thể nhằm duy nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa và giáo dục con người phát triển cân đối hợp lý [53, tr. Khoa học và thực tiễn đã chứng minh, tập luyện thể dục thể thao là phương pháp có hiệu quả nhất, tích cực nhất trong việc nâng cao sức kho , tăng cường thể chất.
Thông qua các hoạt động vận động khoa học, hợp lý, 12 thông qua cơ chế sinh vật học, y học để cải thiện và nâng cao hiệu quả quá trình trao đổi chất, năng lực tổng hợp và phân giải các chất dinh dưỡng trong cơ thể, nâng cao sức kho và tăng cường thể chất, làm cho cơ thể và bản thân người tập có được sự phát triển có hiệu quả. Như vậy, thể dục thể thao là hoạt động của con người thông qua các bài tập luyện, những hình thức trò chơi, thi đấu theo những quy tắc nhất định nhằm cải thiện và nâng cao sức khỏe, thể chất, thể lực của con người, nâng cao thành tích thể thao, phát triển con người một cách toàn diện góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Thể dục thể thao bao gồm ba bộ phận chủ yếu tạo thành: TDTT trường học, TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao. Thể dục thể thao trường học bao gồm giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa của học sinh trong trường học.
Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học. Thể dục thể thao quần chúng là hoạt động rèn luyện sức khỏe bằng các bài tập thể chất và tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao nhằm bảo vệ sức khỏe, hoàn thiện thể chất, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của một bộ phận nhân dân được gọi là thể dục thể thao quần chúng [53, tr. Thể dục thể thao quần chúng mang tính tự nguyện của người tập là một bộ phận và là bộ phận lớn nhất của thể thao cho mọi người không bao gồm giáo dục thể chất trong trường học và thể dục trong lực lượng vũ trang là bắt buộc. Nhiệm vụ của thể dục thể thao quần chúng là tuyên truyền, vận động, hướng dẫn tập luyện, rèn luyện thân thể và giải trí, tổ chức thi đấu biểu diễn, giao lưu, kiểm tra và đánh giá kết quả rèn luyện thân thể, tập luyện TDTT của mọi người 13 [53,tr.
Theo “Điều 11, Khoản1a Luật TDTT sửa đổi năm 2 18: Thể dục, thể thao quần chúng là hoạt động tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể dục, thể thao tự nguyện nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần cho người tập”. Thể thao thành tích cao là một bộ phận quan trọng trong tổ hợp thành thể dục thể thao. Nó là một hoạt động thể dục thể thao xã hội lấy hoạt động thi đấu làm đặc trưng chủ yếu, lấy việc lập thành tích thể thao ưu việt, giành được chiến thắng trong thi đấu làm thành mục đích chủ yếu [39, tr. Được quy định tại Điều 31.
Luật TDTT sửa đổi năm 2 18; “Thể thao thành tích cao là hoạt động huấn luyện và thi đấu thể thao có hệ thống của huấn luyện viên, vận động viên nhằm đạt được thành tích, kỷ lục thể thao” [25]. Đào tạo thể dục thể thao bao gồm Huấn luyện viên và vận động viên Huấn luyện viên là người trực tiếp huấn luyện, đào tạo và hướng dẫn các hoạt động của một đội thể thao hoặc của một cá nhân vận động viên. Một huấn luyện viên, đặc biệt trong một trận đấu lớn, thường được hỗ trợ bởi một hoặc nhiều trợ lý huấn luyện viên. Họ có thể là điều phối viên hoặc chuyên gia thể lực.
Vận động viên là những người được đào tạo để thi đấu các môn thể thao đòi hỏi sức bền, sức khỏe và tốc độ. Vận động viên có thể là người thi đấu thể thao chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư. Khái niệm quản lý nhà nước về thể dục thể thao 1. Khái niệm quản lý nhà nước Theo ngh a rộng: Quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước từ hoạt động lập phápdo cơ quan lập pháp thực hiện, hoạt động hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm, hoạt động tư pháp do cơ quan tư pháp thực hiện.
Theo ngh a hẹp: Quản lý nhà nước là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các l nh 14 vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật. Theo đó quản lý hành chính nhà nước là hoạt động quản lý được giới hạn trong các cơ quan hành pháp; đó là Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp; hệ thống các cơ quan quyền lực xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tư pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính nhà nước. Vậy Quản lý nhà nước bao gồm hai chức năng cơ bản: Lập quy (được thực hiện bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện pháp luật). Tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội.
Tóm lại, theo cuốn thuật ngữ hành chính của Học viện Hành chính thì : “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [14, tr. Quản lý nhà nước về thể dục thể thao Từ khái niệm về quản lý nhà nước và khái niệm về thể dục thể thao để đưa ra khái niệm Quản lý nhà nước về thể dục thể thao. Quản lý nhà nước về thể dục thể thao là việc cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để tác động đến hoạt động thể dục thể thao, điều hành tất cả các hoạt động thể dục thể thao theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được nhà nước quy định nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước.