CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỂ DỤC THỂ THAO 1. Một số khái niệm cơ bản Thể dục là tất cả những hoạt động của cơ thể nhằm nâng cao hoặc duy trì sự vừa vặn của cơ thể và sức khỏe nói chung. Nó có thể được thực hiện nhằm vài lý do khác nhau [35]. Thể thao là hình thức thi đấu đặc biệt chủ yếu và phần nhiều bằng sự vận động thể lực nhằm phát huy khả năng chuyên biệt để đạt thành tích thể thao cao nhất [35].
Thể dục thể thao hay còn gọi là văn hóa thể chất là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể dục thể thao nhằm tăng cường thể chất và nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa, giáo dục và con người phát triển cân đối, hợp lý [35]. * Giáo dục thể chất (thể dục thể thao trường học): Giáo dục thể chất ở Việt Nam thường được gọi là thể dục thể thao trường học, nó là một bộ phận quan trọng cấu thành nên thể dục thể thao và cũng là một bộ phận quan trọng để cấu thành nên giáo dục ở trường học, đồng thời nó cũng là nền tảng của thể dục thể thao toàn dân. Thể dục thể thao trường học là một bộ phận của toàn bộ công tác giáo dục, là cơ sở phát triển nhân tài thể thao cho xã hội hiện đại [21]. * Thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang nhằm góp phần giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, giúp cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang nâng cao sức khỏe, tích cực học tập, rèn luyện thân thể phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
8 * Thể dục thể thao thành tích cao (thể thao thành tích cao): Thể dục thể thao thành tích cao được sinh ra trong thực tiễn của thể dục thể thao thao. Thể dục thể thao thành tích cao là sự phát huy, nâng cao giới hạn tìm lực tối đa của cá nhân và tập thể về hình thái cơ thể, chức năng sinh lý, phẩm chất tâm lý, tố chức thể lực và kỹ chiến thuật để đạt thành tích xuất sắc của vận động viên để đạt được thành tích cao nhất trong thi đấu [21]. * Thể dục thể thao xã hội (thể dục thể thao quần chúng): Thể dục thể thao quần chúng bao gồm nhiều loại hình như thể dục thể thao giải trí, thẩm mỹ, thể dục thể hình, dưỡng sinh, thể dục thể thao trị liệu. Đối tượng của thể dục thể thao quần chúng là nhân dân, trong đó bao gồm có nam, nữ, già, trẻ, những người thương tật.
Thể dục Thể thao quần chúng là một hoạt động tập luyện và vui chơi giải trí, thi đấu thể thao của các đối tượng nhân dân nhằm thỏa mãn nhu cầu giữ gìn sức khỏe, tăng cường thể chất và tinh thần của bản thân, tập luyện để thảo mãn như cầu của bản thân, bằng mọi phương tiện, bài tập, dưới mọi hình thức, ở mọi nơi, mọi lức, mọi hoàn cảnh [21]. Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng cao sức khỏe, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế- xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nước [6]. Điều 4, Luật TDTT năm 2006 quy định nội dung “Chính sách của Nhà nước về phát triển Thể dục, thể thao” như sau: - Phát triển sự nghiệp TDTT nhằm nâng cao sức khoẻ, thể lực, tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thể thao, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Tăng dần đầu tư ngân sách Nhà nước, dành quỹ đất và có chính 9 sách phát huy nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao để đào tạo thành những tài năng thể thao, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TDTT, phát triển một số môn thể thao đạt trình độ thế giới.
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp TDTT, thành lập cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu tập luyện, vui chơi, giải trí của nhân dân, bảo đảm để các cơ sở thể thao công lập và tư nhân được bình đẳng trong việc hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai theo quy định của pháp luật. - Ưu tiên đầu tư phát triển TDTT ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc. Với nhận thức trên đây, có thể xem chính sách phát triển TDTT là các quyết định của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề về phát triển TDTT nhằm đáp ứng những nhu cầu sống khỏe và sự phát triển toàn diện của con người. Quan điểm, mục tiêu và nội dung của chính sách phát triển TDTT 1.
Quan điểm chỉ đạo về chính sách phát triển TDTT Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể. Xây dựng nền TDTT phát triển và tiến bộ, đổi mới và hoàn thiện hệ thống tuyển chọn, bồi dưỡng và đào tạo tài năng thể thao gắn kết giữa các tuyến, các lớp kế cận, có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ 10 sở để phát triển thể thao phù hợp với trình độ phát triển KT - XH và truyền thống dân tộc, tăng cường hội nhập quốc tế, góp phần tích cực thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước. Ưu tiên đầu tư xây dựng CSVC TDTT và đào tạo vận động viên (VĐV) thể thao thành tích cao.
Đồng thời, phát huy các nguồn lực của xã hội để phát triển TDTT. Đổi mới quản lý nhà nước về TDTT, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý, điều hành các hoạt động TDTT. Giữ gìn, tôn vinh những giá trị TDTT dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phát triển nền TDTT nước ta mang tính dân tộc, khoa học, nhân văn và văn minh. Mục tiêu của chính sách phát triển TDTT Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi.
Tăng cường thể lực của thanh niên. Phát triển mạnh TDTT, kết hợp thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại. Có chính sách và cơ chế phù hợp để bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao trong khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế. Nội dung của chính sách phát triển TDTT Phát triển TDTT luôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Công tác TDTT, nâng cao sức khỏe cho nhân dân đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố Sắc lệnh số 38 thành lập Nha Thanh niên và Thể dục thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục, đánh dấu sự ra đời của nền TDTT cách mạng Việt Nam. Từ đó tới nay, dù gặp nhiều khó khăn nhưng TDTT nước ta vẫn liên tục có những bước 11 phát triển đáng ghi nhận, góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Chính sách của Nhà nước về phát triển thể dục, thể thao được quy định tại Luật Thể dục, Thể thao số 77/2006/QH11 của Quốc hội (2006) như sau: 1.
Phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao nhằm nâng cao sức khoẻ, thể lực, tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thể thao, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng dần đầu tư ngân sách nhà nước, dành quỹ đất và có chính sách phát huy nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao để đào tạo thành những tài năng thể thao, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thể dục, thể thao, phát triển một số môn thể thao đạt trình độ thế giới. Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao, thành lập cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu tập luyện, vui chơi, giải trí của nhân dân, bảo đảm để các cơ sở thể thao công lập và tư nhân được bình đẳng trong việc hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai theo quy định của pháp luật. Ưu tiên đầu tư phát triển thể dục, thể thao ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc.
- Ngoài ra, nội dung này còn được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị định số 112/2007/NĐ-CP của Chính phủ như sau: 1. Ngân sách nhà nước chi cho thể dục, thể thao được bố trí tăng dần hàng năm; phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước và yêu cầu phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao. Việc lập dự toán, phân bổ và quản lý 12 Ngân sách nhà nước chi cho thể dục, thể thao được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Ngân sách nhà nước.