Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH TRA XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về công tác thanh tra xây dựng cơ bản 1. Khái niệm quản lý nhà nước về công tác thanh tra xây dựng cơ bản 1. Thanh tra Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Theo Luật Thanh tra năm 2022: “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do Pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [6].
Tại Điều 3 của Luật thanh tra 2022 có nêu mục đích của hoạt động thanh tra: “Hoạt động thanh tra nhằm phát hiện hạn chế, bất cập trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có giải pháp, biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [6]. Như vậy, từ những khái niệm trên ta có thể hiểu là: thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, chính sách chế độ của Nhà nước và các quy định của cơ quan, tổ chức. Thanh tra là một dạng hoạt động, là một chức năng của quản lý Nhà nước được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhân danh quyền lực Nhà nước, nhằm tác động đến đối tượng quản lý trên cơ sở xem xét, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, tăng cường quản lý, góp phần hoàn thiện cơ cấu quản lý, tăng cường pháp chế bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân. Thanh tra có nghĩa là sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định.
Xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định. Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất nằm trong giai đoạn thực hiện đầu tư có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tính chất thông qua các hình thức: xây mới, cải tạo mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản của nhà nước [12]. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế quốc dân [12].
Thanh tra xây dựng cơ bản Thanh tra XDCB là một dạng hoạt động, là một chức năng của quản lý Nhà nước được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhân danh quyền lực Nhà nước, nhằm tác động đến hoạt động XDCB ở một địa phương nhất định, trên cơ sở xem xét, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, tăng cường quản lý, góp phần hoàn thiện cơ cấu quản lý, tăng cường pháp chế bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân đối với XDCB [8]. Thanh tra XDCB là một loại hoạt động thanh tra có tính chuyên ngành, hoạt động thanh tra XDCB có một số đặc điểm cơ bản sau [8]: - Hoạt động thanh tra XDCB được tiến hành trong phạm vi quản lý nhà nước về: xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở và công sở, kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, hạ tầng kỹ thuật đô thị theo quy định của pháp luật. - Hoạt động thanh tra XDCB luôn gắn với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước và phục vụ cho quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng; - Hoạt động thanh tra XDCB do các cơ quan thanh tra chuyên ngành xây dựng tiến hành, thực hiện quyền lực nhà nước trong các hoạt động thanh tra. 6 - Đối tượng của thanh tra XDCB là các tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng.
Quản lý nhà nước về thanh tra xây dựng cơ bản Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý”. Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra [3]. Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa rộng, 3 chức năng cơ bản của Quản lý nhà nước, đó là: (1) chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; (2) chức năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; (3) chức năng tư pháp do cơ quan tư pháp thực hiện [3].
Tuy vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật. Theo đó, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động quản lý được giới hạn trong các cơ quan hành pháp, đó là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp; hệ thống các cơ quan: quyền lực, xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tư pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính nhà nước. Nếu tiếp cận khái niệm Quản lý nhà nước dưới góc độ này, Quản lý nhà nước bao gồm có 2 chức năng cơ bản: (1) Lập quy được thực hiện bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện pháp luật; (2) Tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội. 7 Như vậy, quản lý nhà nước về thanh tra xây dựng cơ bản là hoạt động sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên hoạt động thanh tra xây dựng cơ bản ở địa phương thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm góp phần hoàn thiện cơ cấu quản lý, tăng cường pháp chế bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân đối với xây dựng cơ bản.
Đặc điểm, vai trò của quản lý Nhà nước về công tác thanh tra xây dựng cơ bản 1. Đặc điểm Luật Thanh tra quy định thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Với bản chất đó, thanh tra là hoạt động của cơ quan nhà nước, luôn mang tính quyền lực và là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của quản lý nhà nước nói chung. So với các hoạt động thực thi quyền lực khác thì thanh tra là lĩnh vực hoạt động rất đặc thù.
Tính chất đặc thù đó đặt ra những yêu cầu riêng đối với việc quản lý nhà nước về công tác thanh tra.[5] Trước hết, quản lý nhà nước về công tác thanh tra có những đặc điểm chung của quản lý nhà nước nhưng bản thân thanh tra là một trong những nội dung quản lý nhà nước nên quản lý nhà nước về công tác thanh tra có thể coi là "quản lý đối với quản lý". Với đặc điểm này, chủ thể, nội dung, phạm vi, đối tượng, phương pháp và hình thức quản lý nhà nước về công tác thanh tra có nhiều điểm khác biệt so với quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội.[5] Đối tượng của quản lý nhà nước về công tác thanh tra cũng có những điểm đặc thù. Nếu như quản lý nhà nước về ngành kinh tế - xã hội có rất nhiều đối tượng quản lý là các tổ chức, cá nhân bên ngoài bộ máy nhà nước thì đối tượng quản lý nhà nước về công tác thanh tra chủ yếu là những chủ thể có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước. Sự khác biệt về đối tượng cũng đòi hỏi phải có các biện pháp và hình thức quản lý phù hợp.
Nếu như quản lý nhà nước về ngành kinh tế - xã hội tập trung vào việc ban hành các quyết định cá biệt để áp dụng pháp luật thì quản lý nhà nước về công tác thanh tra tập trung vào việc tổ chức thực hiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc. Vai trò Thanh tra luôn gắn với Nhà nước, là một hoạt động không thể tách rời của cơ quan nhà nước, sự cần thiết khách quan của hoạt động thanh tra được bắt nguồn từ các lý do cơ bản sau: .[5] Thứ nhất, Thanh tra, kiểm tra là chức năng chủ yếu của quản lý nhà nước. Thanh tra kiểm tra là một khâu của quá trình quản lý, có vai trò quan trọng trong việc kiểm định và đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, đề xuất biện pháp hoàn thiện cơ chế chính sách.