Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước trong phát triển cây cam Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển cây cam sành trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về phát triển cây cam sành trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG PHÁT TRIỂN CÂY CAM 1. Một số vấn đề lý luận về phát triển cây cam 1. Khái niệm, phân loại và vai trò của cây cam 1. Khái niệm cây cam Cam (Orange) là loài cây ăn quả cùng họ với bưởi, nó có quả nhỏ hơn quả bưởi, vỏ mỏng, khi chín thường có màu da cam, có vị ngọt hoặc hơi chua.
Loài cam là cây lai được trồng từ xưa, có thể lai giống giữa loài bưởi và quýt. Cam bắt nguồn từ Đông Nam Á, có thể từ Ấn Độ, Việt Nam hay miền nam Trung Quốc (Đường Hồng Dật, 2003). Cam là một trong những loại trái cây có giá trị dinh dưỡng cao, rất có lợi cho sức khỏe. Ngoài công dụng phổ biến là một loại thực phẩm, nước giải khát, cam còn được dùng là nguyên liệu chế biến trong ngành dược phẩm, hóa mỹ phẩm.
Đối với nước ta, cam là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, là loại cây trồng có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế và văn hóa con người (Vũ Mạnh Hải, 2000). Mô tả sơ bộ về cây cam: -Thân thuộc loại thân gỗ, bán bụi, có 4-6 cành chính, cây cao 2-3m, phân cành thấp, cành hướng ngọn, thưa, phân cành ngang. -Chùm hoa ngắn ở nách lá, đơn độc hay nhóm 2-6 hoa thành chùm, đài hoa hình chén, không lông, cánh hoa trắng dài 1,5-2cm, nhị 20-30 cái dánh nhau thành 4-5 bó. -Rễ cây cam: rễ thuộc loại rễ mầm hút nước và muối khoáng cung cấp cho cây.
Bộ rễ phân bố nông và phát triển mạnh là rễ bất định, phân bố rộng và dày ở tầng đất mặt và ưa đất tới xốp. Phân loại cây cam Hầu hết các giống cam được lựa chọn từ những đột biến lai giống tự nhiên và chỉ một tỷ lệ nhỏ được tạo ra từ lai giống công nghệ. Cam có nhiều kích thước và hình dáng từ tròn đến bầu dục, thường có 10 múi và có đến 6 hạt, bì trong trắng xốp. Khi chín vỏ ngoài trở màu cam rực rõ đến 6 vàng.
Ở vùng khí hậu nhiệt đới khi chín da có thể vẫn có màu xanh. Những loại cam đột biến tự nhiên không hột. Cam đường: chính là một giống quýt, vỏ mỏng và bóc dễ nhưng vỏ lại dai nên có nơi còn gọi là cam giấy, được trồng nhiều ở Lào Cai, vùng Canh-Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) nên có tên là cam đường Canh. Quả hình cầu hơi dẹt, nhẵn, khi chín có màu đỏ gấc rất tươi.
Cam chín vào trước Tết khoảng 1 tháng nên được giữ để bày mâm ngũ quả. Cam đường Canh lại thích nghi trồng được ở mọi nơi. Điều kiện trồng thuận lợi, cam cho năng suất cao. Cam rốn: loài cam này có thể diễn tả như có một cam thứ hai nhỏ nằm trên đỉnh đầu của quả cam, nhô ra như cái rốn (rúng).
Loại thông dụng gọi là cam rốn Washington có lẽ là ngẫu biến tự nhiên, hay thụ phấn lẫn nhau từ loài cam ngọt, phát hiện đầu tiên ở Ba Lan khoảng năm 1820, phát triển sang vùng Floria (Mỹ) chỉ trong vòng 15 năm. Trái cam chín màu vàng rất ngọt, nhưng ít nước, không có hột, vỏ dễ lột. Cam thích hợp trồng ở vùng nhiệt đớt, bán nhiệt đới với nhiều ánh nắng. Loài cam này rất phổ thông và thành công về phương diện thương mại trên thị trường cam quốc tế.
Cam Mỹ Trovita là loại cam lai giống công nghiệp ở California, mùi vị không bằng cam rốn, cam không có rốn, nhiều hạt nhưng có thể thích ứng với thời tiết khô, nóng. Cam có nhiều nước, trái nhỏ hơn loại cam rốn. Cam đỏ: vỏ cam màu vàng, cơm màu đỏ đậm có chứa nhiều pigment anthocyanin, múi cam thơm, thoang thoảng hương vị dâu mâm xôi. Cam sành: cam sành Hà Giang-Tuyên Quang-Yên Bái.
Cây cao trung bình, thích nghi rộng, cây cho năng suất cao, phẩm chất ngon, nước nhiều, vỏ khá dễ lột. Cam Xoàn: điểm đặc trưng để phân biệt giống cam Xoàn với các giống cam khác là tán cây có hình cầu hơi vươn cao, lá thon dài, đỉnh và đáy quả có hình như đồng tiền, bề mặt vỏ sần. Cam cho năng suất cao, vị ngọt nhưng điểm hạn chế so với các giống cam khác là thịt quả có màu vàng nhạt, lượng nước của quả ít.Vai trò của cây cam đối với đời sống kinh tế-xã hội Quả cam là loại nông sản được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu 7 cho ngành công nghiệp chế biến và nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của đời sống xã hội. Phát triển sản xuất cam theo hướng hàng hóa gắn với bản chất, vai trò và yêu cầu của phát triển sản xuất nông sản hàng hóa.
Ngoài mục đích nhằm tăng thu nhập cho nông hộ, sản xuất nông sản hàng hóa còn hướng đến mục tiêu mang lại lợi ích, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và giữ gìn hệ sinh thái. Cây cam được sản xuất theo hướng hàng hóa tạo nên một hệ thống bền vững về kinh tế-xã hội, môi trường. Về kinh tế, hoạt động trồng cây cam đạt hiệu quả cao sẽ tạo ra khối lượng sản phẩm lớn với chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm. Về xã hội, phát triển sản xuất cây cam đảm bảo cho người dân vùng trồng cam có đủ việ làm, tăng thu nhập, mức sống ngày càng được nâng cao, thực hiện xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.
Phát triển sản xuất cam đảm bảo cung cấp những sản phẩm cam sạch, tươi ngon, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm vì lợi ích và sức khỏe của người tiêu dùng. Khái niệm phát triển, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững 1.Khái niệm phát triển Trong Từ điển Bách khoa của Việt Nam, “Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật”. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo hướng xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức cao hơn. Raaman (1995) cho rằng, “Phát triển là quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”.
Nhà kinh tế học Dubley (1977) cho rằng khái niệm phát triển phải bổ sung thêm ba đòi hỏi đó là: giảm đói nghèo và suy dinh dưỡng; giảm bất bình đẳng thu nhập; cải thiện điều kiện việc làm. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển, nhưng nhìn chung các ý 8 kiến đều cho rằng: Phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con người. Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quyền tự do của người dân, làm cho cuộc sống của mỗi con người tốt đẹp hơn. Phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu trong tương lai.
Về kinh tế, đó là sự tăng trưởng, hiệu quả và ổn định. Về xã hội là việc giảm đói nghèo, xây dựng thể chế, bảo tồn di sản và văn hóa dân tộc; Về mặt môi trường đó là đa dạng sinh học và thích nghi, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn ô nhiễm môi trường. Khái niệm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững Khái niệm phát triển bền vững được đề cập trong mục 4, điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra định nghĩa thể hiện đầy đủ mục tiêu và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển bền vững phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam, theo đó “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng tưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Phát triển bền vững cây nông nghiệp là việc khai thức và sử dụng nguồn lực hiện tại (tài nguyên, nhân lực, vật lực,.) để phát triển các loại cây nông nghiệp phục vụ nhu cầu quốc gia hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng các nguồn lực đó của thế hệ tương lai, đảm bảo sự phát triển của cây nông nghiệp phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội quốc gia và bảo vệ môi trường, Phát triển bền vững cây nông nghiệp phải đảm bảo được kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó, về kinh tế phát triển nền sản xuất sản phẩm cây nông nghiệp bền vững phải đảm bảo góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương và người nông dân.
Hoạt động sản xuất phải đạt hiệu quả cao, ổn định, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nguồn nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến mà còn xuất khẩu thị trường nước ngoài. Về mặt xã hội, cây nông nghiệp phát triển bền vững phải đảm bảo cho người dân địa phương, nhất là đồng bằng dân tộc thiểu số có đầy đủ công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao. Về khía cạnh môi trường, không 9 hủy hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng các nguồn lực tự nhiên một cách hợp lý, bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái và giữ nguồn nước ngầm trong sạch và không gây ô nhiễm môi trường. Kết hợp 3 yếu tố này sẽ giúp giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu sản phẩm cây nông nghiệp ổn định, chất lượng cao.