Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOÁNG SẢN VÀ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm của khoáng sản a) Khái niệm và phân loại khoáng sản Tài nguyên là các dạng vật chất hữu dụng cho con người, phục vụ đời sống và phát triển kinh tế, xã hội.5] Theo Luật khoáng sản số 60/2010/QH12: Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ[18, tr. Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trong đời sống con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khoán thiên nhiên,…Khoáng sản có thể tồn tại ở thể rắn, lỏng hoặc khí.
Khoáng sản hầu hết là tài nguyên không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia, phải quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng, an ninh[15, tr. Tài nguyên khoáng sản có thể hiểu là tích tụ tự nhiên của các khoáng chất ở thể rắn, lỏng, khí ở trên hoặc ở trong vỏ trái đất, có hình thái, số lượng, chất lượng đáp ứng những yêu cầu tối thiểu cho phép khai thác, sử dụng, có khả năng đem lại giá trị kinh tế ở thời điểm hiện tại hoặc tương lai. Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác Luan van 9 động mạnh mẽ đến môi trường sống.
Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người. Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi, kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v. Có nhiều căn cứ để phân loại khoáng sản như sau:[14, tr.11] - Căn cứ theo chức năng sử dụng, khoáng sản được phân ra làm ba nhóm lớn: Khoáng sản kim loại: + Nhóm khoáng sản sắt và kim loại sắt: Sắt, mangan, crom, niken, coban,… + Nhóm kim loại cơ bản: thiếc, đồng, chì, kẽm,… + Nhóm kim loại nhẹ: nhôm, titan, berylly,… + Nhóm kim loại quý hiếm: vàng, bạc, bạch kim + Nhóm kim loại phóng xạ, nhóm kim loại hiếm và kim loại hiếm và kim loại rất hiếm. Khoáng sản phi kim loại: + Nhóm khoáng sản hóa chất và phân bón: aparit, photphorit, muối mỏ, thạch cao,… + Nhóm nguyên liệu: sứ, gốm, thủy tinh chịu lửa,… + Nhóm nguyên liệu kỹ thuật: kim cương, thạch anh, atbet,… + Nhóm vật liệu xây dựng: đá macma, đá vôi, đá hoa, cát sỏi,… Khoáng sản cháy: than, dầu khí,… - Căn cứ theo mục đích và công dụng có thể phân thành: Khoáng sản nhiên liệu hay nhiên liệu hóa thạch: dầu mỏ, hơi đốt, than đót, than bùn,… Luan van 10 Khoáng sản phi kim: các dạng vật liệu xây dựng như đá vôi, cát, đất sét,…, đá xây dựng như đá hoa cương và các khoáng sản phi kim khác.
Khoáng sản kim loại: các loại quặng kim loại đen, kim loại màu và kim loại đá quý. Nhiên liệu đá màu: ngọc thạch anh, đá má não,… và các loại đá quý như kim cương,… Thủy khoáng: nước khoáng và nước ngọt ngầm dưới đất. Nhiên loại khoáng hóa: aparit và các muối khoáng khác như phophat, … - Căn cứ theo trạng thái vật lý có thể phân thành: Khoáng sản rắn: quặng kim loại đen, kim loại màu, đá,… Khoáng sản lỏng: dầu mỏ, nước khoáng,… Khoáng sản khí: khí đốt, khí trơ,… b) Đặc điểm của khoáng sản - Đặc điểm về phân bố khoáng sản: diện phân bố của khoảng sản được phân ra làm nhiều loại, khu vực, trường, mỏ, thân khoáng sản. Mỏ khoáng sản: là những phần vỏ trái đất có cấu trúc đặc trưng, trongd dó khoáng sản tập trung trong các thân quặng.
Các mỏ chia thành các loại lớn trung bình, nhỏ và rất lớn. Tỉnh khoáng sản: là phần vỏ trái đất liên quan tới một vùng miền hoặc một đáy đại dương chứa các mỏ khoáng sản đặc trưng cho chúng. Vùng khoáng sản: là vùng chiếm một phần tỉnh khoáng sản và được đặc trưng bằng một tập hợp các mỏ khoáng sản xác định về thành phần và nguồn gốc cùng thuộc một hoặc nhóm yếu tố kiến tạo quan trọng của khu vực. Bể khoáng sản: đặc trưng cho các kiến trúc chứa dầu khí, than, khoáng sản phi quặng, quặng Fe và Mn trầm tích biến chất.
Luan van 11 Khu vực khoáng sản: là một phần của vùng khoáng sản có sự tập trung cực bộ các mỏ khoáng sản. Trường khoáng sản: là nhóm các mỏ khoáng sản có chung nguồn gốc và giống nhau về cấu tạo địa chất. Thân khoáng sản là các tích tụ cục bộ tự nhiên của khoáng sản liên quan tới một yếu tố hoặc một tập hợp các yếu tố cấu trúc địa chất. -Đặc điểm theo thành phần hóa học: Khoáng sản chứa trong một mỏ được chia làm 2 loại: quặng và khoáng vật mạch.
- Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản: Việt Nam có vị trí địa chất, địa lý độc đáo, là nơi giao cắt của hai vành đai sinh khoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh các quá trình phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản. Qua 65 năm nghiên cứu điều tra cơ bản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt Nam cùng với các kết qủa nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp từ trước cách mạng tháng 8 đến nay chúng ta đã phát hiện trên đất nước ta có hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng. Hiện nay, nước ta có hơn 5000 điểm quặng và tụ khoáng của 60 loại khoáng sản khác nhau. Phần lớn các khoáng sản có trữ lượng vừa và nhỏ.
Các khoáng sản có trữ lượng lớn là : Than đá, dầu mỏ, apatit, đá vôi,sắt,crôm. Khai thác khoáng sản và và những tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường và sự phát triển bền vững a) Bản chất và những đặc thù của ngành công nghiệp khai thác khoáng sản Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mở, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có Luan van 12 liên quan (khoản 7, Điều 2 Luật Khoáng sản năm 2010). Hoạt động khai thác khoáng sản gây ra những tác hại rất lớn tới môi trường tự nhiên. Vì vậy, pháp luật thường đặt ra những quy định có tính chất là điều kiện bắt buộc chủ giấy phép khai thác khoáng sản phải tuân thủ trước khi được cấp giấy phép, trong suốt cả quá trình khai thác và cả khi kết thúc khai thác.
Công nghiệp khai khoáng Việt Nam hình thành từ cuối thế kỷ 19 do Pháp khởi xướng. Năm 1955, Việt Nam bắt đầu tiếp quản, duy trì, phát triển các cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản. Đến nay, Việt Nam đã tiến hành điều tra cơ bản, thăm dò và phát hiện mới trên 5.000 điểm khoáng và mỏ. Trong đó, một số loại khoáng sản có giá trị công nghiệp đã được đánh giá như dầu – khí (1,2 tỷ – 1,7 tỷ m3), than (240 tỷ tấn), sắt (2 tỷ tấn), đồng (1 triệu tấn kim loại), titan (600 triệu tấn khoáng vật nặng), bauxit (10 tỷ tấn), chì kẽm, thiếc, apatít (2 tỷ tấn), đất hiếm (11 triệu tấn) và các khoáng sản làm vật liệu xây dựng (52 tỷ m3).
Tuy vậy, với vùng thềm lục địa rộng lớn trên 1 triệu km2, việc thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản biển còn nhiều hạn chế, chủ yếu do vấn đề năng lực thăm dò địa chất biển và vốn đầu tư. Trong các loại khoáng sản kể trên, trừ các loại khoáng sản như dầu khí, than, sắt, titan apatit đã được thăm dò tương đối cơ bản và chắc chắn; các khoáng sản kim loại còn lại gồm kim loại màu và khoáng sản quý mới được thăm dò ở mức độ điều tra cơ bản (tìm kiếm). Trước khi đầu tư khai thác, các doanh nghiệp đều phải tiến hành thăm dò bổ sung để hạn chế rủi ro. Việt Nam hiện có hơn 5000 điểm mỏ với khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau.
Nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam tương đối phong phú và đa dạng về chủng loại gồm các nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than); nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, cromít, titan, mangan); nhóm khoáng sản kim loại màu (bôxit, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimon, molipden); nhóm khoáng sản quý (vàng, đá quý); nhóm khoáng sản hoá chất công nghiệp Luan van 13 (Apatít, cao lanh, cát thuỷ tinh); nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng, đá ốp lát). Hầu hết các khoáng sản ở Việt Nam có trữ lượng không lớn và phân bố tản mạn, không tập trung. Trữ lượng dầu khí của Việt Nam cũng không nhiều. Với sản lượng khai thác như hiện nay, nếu không phát hiện thêm trữ lượng mới, nguồn dầu khí của Việt Nam sẽ cạn kiệt chỉ trong vài ba chục năm tới.
Than ở đất liền cũng đã cạn kiệt dần. Việt Nam đang và sẽ phải nhập than từ nước ngoài để bảo đảm nhu cầu tiêu thụ trong nước. Trữ lượng than ở đồng bằng sông Hồng theo số liệu tính toán có thể tới vài trăm tỷ tấn. Đối với một số loại khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn, Chính phủ đã giao cho một số doanh nghiệp nhà nước đảm nhận vai trò nòng cốt trong khai thác theo mô hình kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa.