CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG 1.Một số khái niệm liên quan 1.Khái niệm về môi trường Môi trường là một khái niệm rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt sau hội nghị Stockholm, Thụy Điển về môi trường năm 1972. Trong tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là: “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”. Trong tài liệu “Môi trường và tài nguyên Việt Nam” - NXB Khoa học và kỹ thuật - 1984 đã đưa ra khái niệm: “Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội”. Theo nghĩa rộng (Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học, 2002): “Môi trường là toàn bộ nói chungnhững điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”[28].
Theo Điều 3, khoản 1 - Luật Bảo vệ Môi trường 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhântạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”[14]. Đây là khái niệm rộng, bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhântạo được nhiều người hiểu như môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. 10 Trong đó, môi trường tự nhiên cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhaunhưng các nhân tố cản bản gồm: Thạch quyển, Địa quyển, Thủy quyển, Khíquyển, Sinh quyển, Nhân quyển, Ozon quyền và ion quyển. Còn môi trườngnhân tạo gồm trí quyển, tin quyển, kỹ quyển, tâm quyển, xã quyển và chính trịquyển.
Khái niệm môi trường có thể hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Theo nghĩa hẹp, môi trường không xét tới tài nguyên thiên nhiên, màchỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượngcuộc sống con người. Từ các khái niệm trên, có thể rút ra khái quát chung về môi trường như sau: “Môi trường bao gồm tổng hợp các yếu tố tự nhiên, yếu tố vật chất nhântạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và pháttriển của con người.
Trong đó các yếu tố tự nhiên chủ yếu như đất, nước, khôngkhí, ánh sáng, các hệ sinh thái, sinh vật. có ảnh hưởng và chi phối đặc biệtquan trọng đến sự tồn tại và phát triển của con người. Những yếu tố này pháttriển theo quy luật tự nhiên, nhưng chịu sự chi phối và tác động nhất định của con người. Khái niệm ô nhiễm môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường, không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Ngoài ra, suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh 11 hưởng xấu đến con người và sinh vật. Có 3 nhóm yếu tố ô nhiễm, suy thoái được quan tâm gồm: môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí. Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành. Khái niệm tiêu chuẩn môi trường Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng các chất thải gây ô nhiễm có trong chất thải, các yếu tố kỹ thuật và quản lý của các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.
Đó chính là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường. Tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học liên ngành, nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế - xã hội có tính đến dự báo phát triển.Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường Quản lý nhà nước về môi trường là quá trình mà nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật và xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội của quốc gia. Quản lý nhà nước về môi trường xác định rõ chủ thể là nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội của quốc gia.Quản lý nhà nước về môi trường 12 1.Vai trò của môi trường Môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Vì vậy, môi trường có những vai trò sau: - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật; - Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; - Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình; - Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất; - Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Thứ nhất, môi trường chính là không gian sống của con người và các loài sinh vật. Mỗi một con người đều có yêu cầu về lượng không gian cần thiết cho hoạt động sống như: diện tích đất ở, hàm lượng không khí. Trung bình một ngày, một người cần khoảng 4m3 không khí sạch, 2,5l nước uống, một lượng lương thực, thực phẩm đáp ứng yêu cầu về năng lượng từ 2.
Cộng đồng loài người tồn tại trên Trái đất không chỉ đòi hỏi ở môi trường về phạm vi không gian sống mà cả về chất lượng của không gian sống đó. Chất lượng không gian sống phải đảm bảo được các yêu cầu bền vững về sinh thái – kinh tế - môi trường, thể hiện ở môi trường sạch sẽ, tinh khiết, giàu O2, không chứa các chất cặn bẩn, độc hại đối với sức khoẻ của con người. Môi trường chính là khoảng không gian sinh sống của con người. Hệ số sử dụng đất của con người ngày một giảm: nếu như trước đây, trung bình diện tích đất ở của một người vào năm 1650 là khoảng 27,5 ha/người thì đến nay chỉ còn khoảng 1,5-1,8 ha/người.
Diện tích không gian 13 sống bình quân trên trái đất ngày càng bị thu giảm, mức độ giảm ngày càng tăng nhanh. Thứ hai, môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người. Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên lại không ngừng tăng lên về cả chất lượng, số lượng và mức phát triển của xã hội qua các giai đoạn phát triển khác nhau. Và môi trường chính là nguồn tạo ra và chứa đựng những tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống con người.
Cụ thể, môi trường cung cấp những yếu tố cần thiết cho các quá trình sản xuất và đời sống của con người. Hoạt động sản xuất là một quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hàng hóa. Có những nguồn tài nguyên có thể sử dụng trực tiếp (thuỷ, hải sản.), có dạng phải tác động thì mới sản xuất được của cải vật chất phục vụ đời sống con người (đất đai. Rừng có chức năng cung cấp nước, bảo tồn độ phì nhiêu và đa dạng sinh học của đất, cung cấp nguồn củi gỗ, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái.
Động, thực vật cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm. Các thủy lực cung cấp dinh dưỡng, nước, nguồn thủy hải sản và nơi vui chơi giải trí. Không khí, nhiệt độ, nước, gió, năng lượng mặt trời có chức năng duy trì các hoạt động trao đổi chất. Dầu mỏ, quặng, kim loại cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất.
Các hoạt động sống cũng vậy, con người cũng cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết. Những dạng vật chất trên chính là các yếu tố môi trường. Như vậy chính các yếu tố môi trường là nơi cung cấp của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người. Tuy nhiên, đồng thời môi trường 14 tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ gia tăng nếu con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên.
Thứ ba, môi trường còn là nơi chứa đựng các chất thải do con người tạo ra trong quá trình sống và lao động sản xuất của mình. Trong quá trình sinh sống và phát triển xã hội, con người sử dụng nguyên liệu và năng lượng để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất. Mặt khác, con người lại thải vào môi trường các chất phế thải với nhiều nguồn khác nhau (chất thải rắn, nước thải, khí thải). Môi trường chính là nơi chứa đựng và phân hủy các chất thải đó.
Trong quá trình hiện đại hóa, mật độ dân số tăng cao, số lượng chất thải nhiều, không đủ nơi chứa đựng và quá trình phân hủy tự nhiên không đủ sức để phân hủy chúng. Khả năng hấp thụ, hóa giải của môi trường tự nhiên chỉ có giới hạn và nếu vượt ngưỡng cho phép sẽ gây ra sự suy thoái và ô nhiễm môi trường. Thứ tư, môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất.