Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Những vấn đề lý thuyết về hôn nhân có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm và đặc điểm hôn nhân có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm hôn nhân có yếu tố nước ngoài Hôn nhân là một hiện tượng xã hội đặc biệt, trong đó các bên chủ thể gắn kết với nhau với mục đích tạo dựng một tế bào của xã hội là gia đình.
Hôn nhân thường là kết quả của tình yêu và dựa trên sự tự nguyện của các bên chủ thể nhằm xây dựng một mối quan hệ bền vững. Hôn nhân là quan hệ gắn liền với nhân thân của mỗi bên chủ thể. Mục đích của các bên trong quan hệ hôn nhân là nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm và tương trợ lẫn nhau về những nhu cầu vật chất trong đời sống hàng ngày. Hôn nhân nếu hiểu theo nghĩa thông thường là việc trai lấy vợ, gái lấy chồng, trai gái lấy nhau làm vợ chồng, khi đến một độ tuổi nhất định thì hai bên nam nữ sẽ thiếp lập quan hệ vợ chồng với nhau nhằm chia sẻ tình cảm, gánh vác công việc, sinh con và nuôi dạy con.
Hiểu một cách đầy đủ, toàn diện thì hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ, trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nhằm cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững [22, tr. Trong một số văn bản khác lại có những cách hiểu khác nhau về hôn nhân như: Theo từ điển Tiếng việt của Trung tâm từ điển - Nhà xuất bản Lao động năm 2006 thì khái niệm hôn nhân được hiểu là: “Việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” [40]. 8 Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì cho rằng“Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa người nam với người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng theo điều kiện và trình tự luật định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận” [41]. Theo quan điểm triết học hôn nhân được hiểu như là một sự liên kết tự nguyện giữa những con người bình đẳng, trong đó tình yêu thương và sự kính trọng giữ vai trò quyết định.
Theo cuốn Tìm hiểu Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động thì cho rằng “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã thực hiện các quy định của pháp luật về kết hôn, nhằm chung sống với nhau và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” [21]. Khái niệm hôn nhân mặc dù có thể có rất nhiều cách hiểu khác nhau song về cơ bản là thống nhất, theo đó bản thân tác giả thống nhất với cách hiểu “Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ, trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nhằm cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững”. Sự liên kết giữa một nam, một nữ để dành cho nhau sự giúp đỡ, sự hỗ trợ cần thiết, để tạo lập một gia đình. Tuy nhiên, ở một số nước hôn nhân có thể xác lập giữa một người đàn ông và nhiều người đàn bà (hôn nhân đa thê), ở một vài bộ tộc sống theo nền nếp hình thành từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh, chế độ đa phu được thừa nhận: Một người đàn bà có thể chung sống với nhiều người đàn ông cùng một lúc.
Mặt khác, ở một số nước lại xuất hiện xu hướng cho rằng sự khác biệt giới tính không phải là điều kiện bắt buộc của hôn nhân: Những người cùng giới tính vẫn có thể sống với nhau và tạo thành một gia đình. Đối với xã hội phương đông, nhất là đối với xã hội Việt Nam, 9 tình yêu giữa những người cùng giới tính được coi là biểu hiện của một tình trạng bệnh tật và hôn nhân giữa những người cùng giới tính là một giao dịch không chỉ nằm ngoài vòng pháp luật mà còn nằm ngoài khuôn khổ đạo đức pháp lý. Ở nước ta, chỉ thừa nhận hôn nhân khác giới, một vợ, một chồng được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. Ngày nay, cùng với tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa đến sản xuất, kinh tế, thương mại thì quan hệ hôn nhân cũng có sự biến đổi không nhỏ, sự mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu trên mọi lĩnh vực giữa các nước trên thế giới là cơ hội cho nhiều người nước ngoài đến Việt Nam công tác cũng như công dân Việt Nam ra nước ngoài gặp gỡ, giao lưu tìm hiểu nhau.
Từ việc đi du lịch, đi du học, đi hợp tác lao động tới việc kết bạn, hẹn hò thông qua các trang mạng xã hội đã khiến cho hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên hiện nay, không có một văn bản nào định nghĩa thế nào là hôn nhân có yếu tố nước ngoài, các văn bản thường giải thích từ ngữ theo cụm “hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”. Hôn nhân và gia đình về mặt lý luận là hai khái niệm độc lập, nếu hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn thì gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định pháp luật. Về nội hàm, khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân, về mặt chủ thể quan hệ hôn nhân chỉ gồm quan hệ giữa vợ và chồng còn quan hệ gia đình không chỉ quan hệ giữa vợ và chồng mà còn có những người khác dựa trên quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng.
Tuy nhiên, hai khái niệm lại này có sự gắn bó mật thiết với nhau, hôn nhân là cơ sở tạo nên gia đình do vậy ta hoàn toàn có thể xem xét khái niệm hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong khái niệm hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. 10 Theo quy định tại Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Từ khái niệm trên, ta có thể rút ra ba dấu hiệu để xác định một quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đó là: Chủ thể của quan hệ hôn nhân là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân phát sinh ở nước ngoài và yếu tố tài sản trong quan hệ hôn nhân ở nước ngoài. Quan hệ hôn nhân bao gồm tổng thể ba quan hệ: Quan hệ kết hôn; quan hệ vợ, chồng và quan hệ chấm dứt hôn nhân.
Như đã trình bày ở lời nói đầu khi nghiên cứu quản lý nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài tác giả sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Từ khái niệm hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như đã phân tích và khái niệm kết hôn quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn". Ta có thể định nghĩa kết hôn có yếu tố nước ngoài: Là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, trong đó có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc việc kết hôn được xác lập ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài. Có thể hiểu, kết hôn chính là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân, về mặt xã hội là lễ cưới, về mặt pháp luật là việc đăng ký kết hôn khi 11 đáp ứng đủ các điều kiện luật định không phân biệt hôn nhân trong nước hay hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Đặc điểm của hôn nhân có yếu tố nước ngoài Cũng như quan hệ hôn nhân trong nước, hôn nhân có yếu tố nước ngoài có các đặc điểm sau: Tính tự nguyện: Hôn nhân là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, do đó việc thể hiện ý chí ưng thuận giữa các bên trong hôn nhân là một trong các điều kiện căn bản để hôn nhân có hiệu lực. Việc hai người xác lập quan hệ hôn nhân một cách tự nguyện được hiểu là trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do thể hiện ý chí của chính bản thân họ, xuất phát từ tình yêu chân chính không chịu sự tác động từ bất cứ một chủ thể nào khác. Kết hôn hay ly hôn là quyền chứ không phải nghĩa vụ. Tính tự nguyện trong hôn nhân được ghi nhận Khoản 1 Điều 36 của Hiến pháp năm 2014 và tại Khoản 1 Điều 2 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Dù là quan hệ hôn nhân trong nước hay quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì sự tự nguyện trong hôn nhân rất quan trọng bởi điều này là yếu tố quyết định sự bền vững hạnh phúc và lâu dài của cuộc hôn nhân. Tính bền vững: Điều này xuất phát từ mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình, ổn định và phát triển xã hội, gia đình bắt đầu từ hôn nhân, từ quan hệ vợ chồng về tình cảm mà phát sinh các quan hệ giữa cha, mẹ và con, quan hệ giữa anh, chị, em và đó cũng là những điều kiện đảm bảo cho sự liên kết hạnh phúc, bền vững trong hôn nhân, hôn nhân có bền vững thì gia đình và xã hội mới ổn định và phát triển.