Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN 1. THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN 1. Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về HN&GĐ là quyền xem xét giải quyết các tranh chấp và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các tranh chấp đó theo thủ tục TTDS của Tòa án. Hay nói cách khác đó là quyền xem xét và ra quyết định trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo Luật định.
Ở Việt Nam, các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thƣơng mại, lao động, HN&GĐ đƣợc điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác nhau nhƣ: BLDS, Bộ luật Lao động, Luật Thƣơng mại, Luật HN&GĐ…Tuy nhiên, các quan hệ pháp luật này đều có cùng tính chất là quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân đƣợc hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện cam kết, thỏa thuận và tự định đoạt của các chủ thể. Do vậy, các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật này phải thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án, đƣợc giải quyết theo thủ tục TTDS. Đối với các vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp luật hình sự, hành chính thì không thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án vì chúng không có cùng tính chất với các quan hệ trên. Khác với thẩm quyền xét xử hành chính và thẩm quyền xét xử hình sự của Tòa án, thẩm quyền về dân sự của Tòa án có những đặc trƣng sau: - Tòa án nhân danh quyền lực nhà nƣớc, độc lập trong việc xem xét giải quyết và ra các phán quyết đối với các vụ việc phát sinh từ các quan hệ mang 9 z tính tài sản, nhân thân đƣợc hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể với nhau.
- Thẩm quyền dân sự của Tòa án đƣợc thực hiện theo thủ tục TTDS. Do vậy, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung về tố tụng nhƣ tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, đảm bảo sự vô tƣ, khách quan… thì Tòa án khi xem xét giải quyết các tranh chấp dân sự phải tôn trọng và đảm bảo quyền tự định đoạt của các đƣơng sự. Phạm vi xem xét giải quyết và quyền quyết định của Tòa án đƣợc giới hạn bởi những yêu cầu mà đƣơng sự đƣa ra cũng nhƣ trên cơ sở sự thỏa thuận của họ về những vấn đề có tranh chấp. Về nguyên tắc, các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật HN&GĐ do Luật HN&GĐ điều chỉnh đều thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án.
Theo Điều 27 BLTTDS quy định những tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện thuộc lĩnh vực HN&GĐ gồm: - Ly hôn, tranh chấp về con nuôi, chia tài sản khi ly hôn. - Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. - Tranh chấp về thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. - Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
Hiện nay, Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ. Tuy nhiên, đối với các yêu cầu về việc xác định cha mẹ con tự nguyện, không có tranh chấp, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong trƣờng hợp này, đƣơng sự có thể yêu cầu cơ quan hộ tịch giải quyết theo thủ tục hành chính về đăng ký hộ tịch. - Tranh chấp về cấp dƣỡng.
Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp về nghĩa vụ cấp dƣỡng giữa cha mẹ và con; giữa anh chị em với nhau; giữa ông bà nội, ngoại và cháu; giữa vợ và chồng khi ly hôn mà các bên không thỏa thuận đƣợc. - Các tranh chấp khác về HN&GĐ mà pháp luật có quy định. 10 z Ở Việt Nam, hệ thống Tòa án đƣợc tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Trong các Tòa án chỉ có TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh là có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự nói chung và HN&GĐ nói riêng.
Do vậy, việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa các Tòa án các cấp đƣợc thực hiện đối với TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh. Theo quy định tại Điều 33 và Điều 34 BLTTDS thì TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp, yêu cầu về HN&GĐ. Đối với những tranh chấp có tính chất phức tạp đòi hỏi những điều kiện đặc biệt về chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Tòa án cũng nhƣ những điều kiện về phƣơng tiện kỹ thuật, về ủy thác tƣ pháp với nƣớc ngoài hoặc những vụ việc mà việc giải quyết của TAND cấp huyện không đảm bảo sự vô tƣ, khách quan sẽ thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh. Hiện nay, các quy định của Điều 33 và Điều 34 BLTTDS phân định thẩm quyền của TAND các cấp cũng tuân theo nguyên tắc này.
Ngoài ra, TAND cấp tỉnh còn có thẩm quyền sơ thẩm những tranh chấp về HN&GĐ thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện mà TAND cấp tỉnh lấy lên để giải quyết. Thông thƣờng, TAND cấp tỉnh có thể lấy những vụ việc thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện để giải quyết trong những trƣờng hợp việc vận dụng pháp luật, chính sách có nhiều khó khăn, phức tạp; việc điều tra thu thập chứng cứ có nhiều khó khăn hoặc phải giám định kỹ thuật phức tạp; đƣơng sự là cán bộ chủ chốt ở địa phƣơng, những ngƣời có uy tín trong tôn giáo mà xét thấy việc xét xử ở TAND cấp huyện không có lợi về mặt chính trị hoặc vụ việc có liên quan đến thẩm phán, phó chánh án, chánh án TAND cấp huyện. Theo yêu cầu của đƣơng sự, TAND cấp tỉnh cũng có thể lấy những vụ việc thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện lên để xét xử nếu thấy có lý do chính đáng. Thủ tục giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án Thủ tục giải quyết tranh chấp về HN&GĐ cũng rất đa dạng và phong phú, nhƣng quy về những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, giải quyết các tranh chấp về HN&GĐ trong thụ lý, điều tra, đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án: Thụ lý vụ án: Cá nhân, cơ quan, tổ chức do BLTTDS quy định có quyền khởi kiện đến Tòa án giải quyết các tranh chấp về HN&GĐ.
Tòa án thụ lý giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện thuộc lĩnh vực HN&GĐ theo Điều 27 BLTTDS. Trong thực tế các tranh chấp về HN&GĐ khi các đƣơng sự gửi đơn đến Tòa án viết rất đơn giản ít các thông tin để xem xét, thuộc loại tranh chấp nào, thuộc thẩm quyền Tòa án nào giải quyết. Vì vậy, Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, những chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì thông báo cho ngƣời khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho ngƣời khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc giấy báo của Tòa án về việc tiền tạm ứng án phí, ngƣời khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án thụ lý vụ án khi ngƣời khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai tạm thu tiền án phí. Nếu trƣờng hợp đƣợc miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án phải thụ lý khi nhận đƣợc đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu có. Khác với pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (Điều 37) quy định: "Nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án báo ngay cho nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí, trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nộp đơn.
Tòa án thụ lý vụ án kể từ ngày nguyên đơn nộp tiền", nhƣng đối với 12 z BLTTDS tại Điều 167 quy định: "Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đƣơng sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bƣu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đƣợc đơn khởi kiện Tòa án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây: - Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu thuộc thẩm quyền của mình. - Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho ngƣời khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác. - Trả lại đơn cho ngƣời khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Việc trả lại đơn đƣợc phân ra trong các trƣờng hợp: - Ngƣời khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. - Sự việc đã đƣợc giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trừ trƣờng hợp Tòa án bác đơn xin ly hôn, bác đơn xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dƣỡng. - Chƣa có đủ điều kiện khởi kiện. - Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Nhƣ vậy, khi thụ lý đơn để giải quyết vụ án, Tòa án trƣớc khi thụ lý cần phải xem xét nhiều vấn đề liên quan nhƣ các chứng từ liên quan đến vụ kiện, thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, thẩm quyền của Tòa án cấp nào đƣợc giải quyết, ngƣời khởi kiện có quyền khởi kiện hay không, có đủ năng lực hành vi dân sự không. đồng thời Tòa án phải thụ lý theo đúng thời hạn của BLTTDS quy định. Điều tra vụ án: Đối với vụ án HN&GĐ, quá trình điều tra vụ án thuộc trách nhiệm của Tòa án, Chánh án phân công cho một Thẩm phán trực tiếp giải quyết 13 z vụ án, điều tra thu thập chứng cứ, đây là giai đoạn rất quan trọng, khó khăn nhất trong quá trình giải quyết vụ án. Thu thập đƣợc chứng cứ đầy đủ, khách quan thì Tòa án mới có thể phán quyết chính xác và đúng pháp luật.