CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 1. TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái niệm hoạt động xuất nhập khẩu Trong thực tế có rất nhiều khái niệm đề cập đến hoạt động XNK tuy nhiên trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, theo tác giả hoạt động XNK hay còn gọi là ngoại thương là một hoạt động kinh tế phản ánh sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa trong nước và nước ngoài thông qua việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia. Mục tiêu chính của ngoại thương là tạo ra cầu nối giữa cung, cầu hàng hóa dịch vụ của thị trường trong và ngoài nước [10].
Điều kiện để hoạt động XNK sinh ra, tồn tại và phát triển là có sự tồn tại của quan hệ kinh tế hàng hóa - tiền tệ và sự tồn tại các quốc gia vùng lãnh thổ và khả năng liên kết kinh tế, hội nhập với kinh tế khu vực và quốc tế. Hoạt động XNK tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân vì góp phần vào việc cân đối trực tiếp các yếu tố sản xuất: công cụ lao động, đối tượng lao động, lao động. Bên cạnh lợi ích to lớn phát triển kinh tế quốc gia, XNK còn mang lại lợi ích khác rất quan trọng như: - Đảm bảo yếu tố đầu vào đầu ra của sản xuất, tạo lập thị trường cho sản xuất phát triển (thay đổi cơ cấu sản phẩm có lợi, mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm). - Phục vụ đa dạng hơn tiêu dùng xã hội (số lượng, chất lượng, thẩm mỹ hàng tiêu dùng).
13 - Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) làm giảm mức độ rủi ro liên quan đến điều kiện sản xuất và thị trường. - Thúc đẩy cạnh tranh (cạnh tranh quốc tế thúc đẩy các công ty trong nước đưa ra chiến lược để cạnh tranh với nhau) 1. Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động XNK, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” và “quản lý nhà nước”. Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý.
Việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN [13]. Như vậy quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyển lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành chiến lược, quy hoạch, chính sách, pháp luật đến việc chỉ đạo, tổ chức hoạt động của đối tượng bị quản lý và kiểm soát đối với đối tượng quản lý.
Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Quản lý nhà nước về kinh tế được thể hiện thông qua các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của nhà nước [19]. Như vậy quản lý nhà nước đối với kinh tế bao gồm các chức năng định 14 hướng; điều tiết, điều hòa phối hợp hoạt động giữa các ngành, các lĩnh vực, doanh nghiệp và kiểm tra, kiểm soát nhằm thiết lập kỉ cương trong hoạt động kinh tế [10]. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động XNK cũng như quản lý nhà nước về hoạt động XNK thông qua các công cụ quản lý như đã trình bày trong phần tổng quan, tuy nhiên theo tìm hiểu của mình, tác giả đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động XNK như sau: Quản lý nhà nước về hoạt đông XNK là sự tác động của Nhà nước lên các chủ thể chịu trách nhiệm về hoạt động XNK thông qua quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách và quy định pháp luật; thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ XNK; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về XNK; kiểm tra, kiểm soát hoạt động XNK, tạo ra môi trường thuận lợi nhất để hoạt động XNK phát triển đúng định hướng phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, có hiệu quả một cách bền vững trong điều kiện biến động của môi trường trong nước và thương mại quốc tế.
Khái niệm trên bao gồm các yếu tố sau: - Mục tiêu của quản lý nhà nước về hoạt động XNK là phát triển hoạt động XNK theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế xã hội. - Đối tượng quản lý là hoạt động XNK tại các doanh nghiệp XNK thuộc các lĩnh vực, vùng lãnh thổ với quy mô khác nhau. - Chủ thể quản lý nhà nước về hoạt động XNK là bộ máy quản lý nhà nước gồm nhiều cơ quan quản lý các lĩnh vực, các ngành khác nhau của nền kinh tế từ Trung ương đến địa phương. Sự cần thiết quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu Hoạt động XNK hay nói cách khác là ngoại thương cũng là ngành kinh tế đối ngoại quan trọng.
Do đó nhà nước phải can thiệp vào hoạt động này vì 15 các lý do sau đây: - Vì mục tiêu hiệu quả kinh tế, mọi quốc gia đều phải tập trung hóa và chuyên môn hóa sản xuất bao gồm nâng quy mô sản xuất, quy mô dịch vụ của đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ, từ đó đòi hỏi các nước phải giao lưu quốc tế về kinh tế để tránh tình trạng sản xuất thừa hay thiếu. - Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như ngày nay, nếu không có các chính sách bảo hộ phù hợp thì nền công nghiệp non trẻ của nước ta sẽ không đứng vững được. Vì vậy, để thực hiện các mục tiêu công nghiệp hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cần hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động XNK. - Sự tác động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường cũng có những mặt trái, thách thức đối với nền kinh tế như: do chạy theo lợi nhuận nên xuất khẩu, nhập khẩu không tạo ra cơ cấu sản phẩm tối ưu cho xã hội; gây ảnh hưởng đến môi trường, an ninh xã hội; các nhà sản xuất kinh doanh làm bất cứ việc gì dù là buôn bán gian lận đầu cơ tích trữ để kiếm được nhiều lợi lộc.
Trước tình hình đó, đòi hỏi cần phải hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu nhằm tích cực khai thác các lợi thế ngành, tạo ra các cơ hội và chủ động giải quyết các khó khăn thách thức. Một số lý thuyết cơ bản quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu a. Quan niệm của các học giả trọng thương (Mercantilism) Chủ nghĩa trọng thương hình thành trong giai đoạn thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII của một số đại diện học giả người Anh và người Pháp. Các học giả nêu quan điểm về sự giàu có của quốc gia dựa vào sự gia tăng lượng vàng bạc (tức gia tăng mức cung tiền tệ) trong nền kinh tế sẽ có tác dụng kích thích hoạt động sản xuất [10].
Chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao chính quyền nhà nước vì họ cho rằng Nhà nước cần phải quản lý điều hành nền kinh tế 16 nhằm đạt lợi ích quốc gia, thể hiện qua sự giàu có, quyền lực và danh tiếng. Chủ nghĩa trọng thương không quan tâm đến việc cải thiện cuộc sống của con người hay thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia trong hệ thống thế giới. Ngày nay, chính sách mang tính bảo hộ của chủ nghĩa trọng thương như các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu, hàng rào kỹ thuật nhằm hạn chế nhập khẩu và tăng cường xuất khẩu vẫn còn tồn tại và không thể thiếu trong chính sách kinh tế của nhiều quốc gia ngày nay. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối (Absolute Advantages) Tác giả của lý thuyết về lợi ích tuyệt đối là Adam Smith, nhà kinh tế chính trị cổ điển người Anh (1723-1790).
Ông đã xây dựng mô hình thương mại đơn giản dựa trên ý tưởng về lợi thế tuyệt đối. Mỗi quốc gia chỉ nên tập trung sản xuất mặt hàng mà mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia. Như vậy một quốc gia sẽ có lợi thế tuyệt đối về một mặt hàng nếu cùng một đơn vị nguồn lực, quốc gia đó sẽ sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn, nghĩa là có năng suất cao hơn. Bằng cách chuyên môn hóa sản xuất những hàng hóa mà một nước có lợi thế tuyệt đối, cả hai nước sẽ thu được lợi ích khi tham gia vào thương mại quốc tế.
Adam Smith ủng hộ nền thương mại tự do, không có sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Mô hình này có thể áp dụng cho một số nước không có điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng các loại cây như chuối, cà phê… thì buộc phải nhập khẩu các sản phẩm này từ nước ngoài nhưng mô hình này chưa giải thích được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối (hoặc có mức bất lợi tuyệt đối) về tất cả các mặt hàng. Lý thuyết về lợi thế so sánh (Comparetive Advantages) David Ricardo (1772-1823) đưa ra học thuyết này trong thời kỳ cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, quy luật lợi thế so sánh được phát biểu: “Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương 17 đối so với quốc gia kia. Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tương đối so với quốc gia kia” [10].
Lý thuyết này giải thích sản lượng tiềm năng của thế giới sẽ lớn hơn nhiều trong điều kiện thương mại tự do không bị hạn chế và gợi ý rằng người tiêu dùng ở tất cả các quốc gia được tiêu dùng nhiều hơn nếu như không có hạn chế trong thương mại giữa các nước.