Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về lễ hội Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, thì lễ hội là nét văn hóa rất đặc trưng. Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian có mặt ở khắp mọi miền đất nước.
Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy trì. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn là nhân thần hay nhiên thần. Đó là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui.
Lễ hội là những hoạt động, những sinh hoạt văn hóa mà ở đó có sự gắn kết không thể tách rời của cả nội dung và hình thức của cả hai thành tố cơ bản là Lễ và Hội. - Khái niệm về nghi lễ: Nghi lễ là những nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh, ước nguyện về sự kiện, nhân vật đó với mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng siêu linh mà người ta thờ cúng [46, tr. - Khái niệm về hội: Hội là tập hợp những hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội của một cộng đồng dân cư nhất định, là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dân tham dự theo phong tục truyền thống hoặc nhân những dịp đặc biệt. Những hoạt động diễn ra trong hội phản ánh điều kiện, khả năng và trình độ phát triển của địa phương, đất nước ở vào thời điểm diễn ra các sự kiện đó [46, tr.
9 Ngoài ra trong hoạt động lễ hội còn bao gồm một số thành tố khác như: hệ thống các tục hèm, các trò diễn dân gian, hoạt động hội chợ triển lãm, văn hóa ẩm thực… Các thành tố này luôn có sự gắn kết mật thiết, tương hỗ lẫn nhau, sự gắn kết này luôn có trục trung tâm là định hướng phát triển. Các thành tố của lễ hội luôn vận hành quanh trục trung tâm đó để đạt được những mục tiêu nhất định, những mục tiêu này nhằm phục vụ lợi ích của cả cộng đồng, chứ không chỉ phục vụ lợi ích riêng của những người tổ chức lễ hội. Lễ hội là một hoạt động tập thể do quần chúng nhân dân tiến hành, bất kỳ lễ hội nào cũng gắn với các địa bàn dân cư cụ thể, là hoạt động văn hóa của một địa phương. Về cơ bản, lễ hội tại Việt Nam là những lễ hội làng nhưng cũng có nhiều lễ hội do nội dung và tính chất của nó nên được diễn ra trong một không gian rộng lớn hơn, có tính liên làng, liên vùng.
Những hoạt động lễ hội này diễn ra không thường xuyên mà chỉ ở một vài thời điểm nhất định là vào mùa Thu hay mùa Xuân trong năm. Đây là thời điểm chuyển giao thời tiết, cũng là thời điểm chuyển giao mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp. Vào thời điểm này, người ta tổ chức hoạt động lễ hội nhằm các mục đích khác nhau. Trước hết, những hoạt động mang tính nghi lễ nhằm nhắc lại sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại đã diễn ra trong quá khứ.
Đây chính là biểu hiện đạo lý truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc, thể hiện cách ứng xử văn hóa với thiên nhiên, thần thánh, con người thông qua các hoạt động trong lễ hội. Đó là những ứng xử của tập thể, của cộng đồng dân cư với cả hai đối tượng: siêu hình (thần thánh) và hữu hình (con người). Nó cũng phản ánh mối quan hệ giao thoa giữa siêu và thực, giữa con người với con người trong những hoàn cảnh và hoạt động cụ thể. Có nhiều khái niệm để nói về lễ hội như sau: Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của các tầng lớp nhân dân, diễn ra trong những chu kỳ 10 về không gian và thời gian nhất định để tiến hành những nghi thức mang tính biểu trưng về sự kiện, nhân vật được thờ cúng.
Những hoạt động này nhằm để tỏ rõ những ước vọng của con người, để vui chơi giải trí trong tính cộng đồng cao [46, Tr. Lễ hội chính là một hình thức “diễn xướng dân gian” mà ở đó bảo lưu các phong tục tập quán, lối sống, nếp sống. Các nghi thức, trình tự, nội dung và những hình thức diễn xướng trong các lễ hội mang đặc trưng văn hóa dân tộc vừa hàm chứa các nét đặc sắc của yếu tố bản địa, mang sắc thái địa phương, vùng miền. Phong tục tập quán của mỗi địa phương thể hiện nhịp điệu của cuộc sống xã hội [46, tr.
Lễ hội là sự mô phỏng, tái hiện lại hình ảnh các nhân vật, sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ thông qua các hình thức diễn xướng dân gian, các trò diễn dân gian. Ở trong các hoạt động đó có sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân [46, tr. Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức như là một trò diễn, được thăng hoa, được liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, của tư tưởng và của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới hiện thực [52, tr. Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu một cách khái quát nhất về lễ hội đó là: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong một khoảng thời gian và không gian xác định, nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện các ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội” [46, tr.
Khái niệm về lễ hội truyền thống Muốn nghiên cứu về lễ hội truyền thống với tư cách là một thành tố đặc sắc của văn hóa dân gian, phải đặt nó trong môi trường nảy sinh ra nó đó 11 là môi trường đã sản sinh, nuôi dưỡng và sử dụng nó trong suốt chiều dài lịch sử. Môi trường của lễ hội truyền thống Việt Nam về cơ bản chính là nông thôn, làng xã. Lễ hội là nơi mà ở đó các yếu tố văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát triển. Những yếu tố văn hóa truyền thống đó không ngừng được bổ sung và hoàn thiện, vận hành cùng tiến trình phát triển lịch sử của mỗi địa phương trong lịch sử chung của đất nước.
Nó là kết quả của cả quá trình lịch sử không chỉ của một cộng đồng người. Đây chính là tinh hoa được đúc kết, kiểm chứng và hoàn thiện trong suốt chiều dài lịch sử của bất kỳ cộng đồng dân cư nào. Tính cộng đồng và cố kết cộng đồng là đặc trưng cơ bản và là nét giá trị tiêu biểu của lễ hội truyền thống. Tính cộng đồng biểu hiện dưới nhiều cấp độ: Cộng đồng gia tộc - Cộng đồng làng xã, địa phương, vùng miền - Cộng đồng quốc gia, quốc tế hoặc cộng đồng theo các tổ chức tôn giáo tín ngưỡng.
Tính cộng đồng là yếu tố quyết định, là sợi dây liên kết thống nhất và bền vững trong chu trình phát triển, gắn kết giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Bản chất của lễ hội là một sinh hoạt cộng đồng, trong môi trường như vậy, nó có điều kiện thể hiện vai trò tập hợp và quy tụ, gắn kết và điều phối mọi tầng lớp người trong một không gian văn hóa vốn thuộc về cộng đồng. Như vậy: “Lễ hội truyền thống còn được gọi là lễ hội dân gian hay lễ hội cổ truyền, thường tổ chức ở đình, chùa (chùa mang chức năng hội làng), đền, miếu, phủ, điện. trong các làng gọi là Hội làng, hoặc ngày nay ở thị trấn, tỉnh thành thì gọi là Hội đình, Hội đền, Hội phu, do dân làng, trước hết là các cụ - đại biểu của những tầng lớp trong cộng đồng làng, phường, phố tổ chức” [55, tr.
Khái niệm trên đã phản ánh bản chất và nội dung của lễ hội truyền thống Việt Nam. Trước hết lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa cộng đồng, bởi vì đây là hoạt động văn hóa tập thể, thuộc về tập thể, do tập thể tổ chức tiến hành. Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm người nào đó 12 trong xã hội. Dù ở bất cứ đâu, vào bất kỳ thời gian nào lễ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành.
Chính họ là những người sáng tạo chân chính những giá trị bắt nguồn từ cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu. Họ là chủ nhân, đồng thời là người đánh giá, cảm nhận và hưởng thụ những thành quả sáng tạo văn hóa ấy. Khái niệm về lễ hội hiện đại Lễ hội hiện đại chỉ ra đời kể từ sau năm 1945, những lễ hội này thường gắn với việc kỷ niệm các sự kiện có liên quan đến cách mạng, kháng chiến hoặc các danh nhân, anh hùng dân tộc có liên quan, tiêu biểu nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hay nói một cách chung thì lễ hội hiện đại là những lễ hội được ra đời từ sau năm 1945 ở Việt Nam mà nội dung và tính chất của nó liên quan đến các sự kiện chính trị, quân sự, văn hóa xã hội nổi bật trong tiến trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Lễ hội hiện đại là sinh hoạt văn hóa, đồng thời là một sinh hoạt chính trị rộng khắp chứa đựng những giá trị hiện sinh đồng thời phản ánh trình độ, điều kiện và xu hướng phát triển của xã hội vào thời điểm diễn ra lễ hội. Lễ hội hiện đại có sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, các yếu tố của đời sống hiện đại như nghi thức, phương tiện, âm thanh, hình ảnh, ánh sáng, trang phục, ngôn ngữ, biểu tượng… Lễ hội hiện đại được truyền thông, truyền hình rộng rãi và nhanh chóng, đầy đủ, chi tiết các hoạt động của lễ hội như các hoạt động diễn ra trong và bên lề của lễ hội. Các phương tiện như vô tuyến truyền hình, cầu truyền hình trực tiếp, tường thực trực tiếp qua radio, qua các phương tiện nghe nhìn hiện đại. Nghi thức tiến hành có sự kết hợp giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại, tùy theo tính chất và nội dung của lễ hội.