Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI HOA PHƯỢNG ĐỎ Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm lễ hội 1. Lễ hội Lễ hội là một bộ phận quan trọng của kho tàng di sản văn hóa quý báu của dân tộc; là nét đẹp văn hóa được hình thành, bổ sung và phát triển cùng với lịch sử của dân tộc; trở thành nhu cầu sinh hoạt văn hóa không thể thiếu của nhân dân, nhằm thỏa mã khát vọng về nguồn, nhu cầu văn hóa tâm linh; tăng cường giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân ở mọi miền đất nước [67].
Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về Lễ hội: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (2015): Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Hội là sinh hoạt văn hóa tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, sự hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng [20, tr. Theo quan điểm của tác giả Vũ Ngọc Khánh: “Lễ hội cũng có thể gọi là hội lễ, đó là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phương hoặc trong cả nước” [25, tr. Trần Ngọc Thêm và các cộng sự lại cho rằng: Lễ hội là sự tổng hợp cái linh thiêng và cái trần thế, nhằm thể hiện lòng biết ơn và bày tỏ nguyện vọng cùng sự cầu mong của 10 mình đối với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên trong vũ trụ; phân bố theo không gian; có khuynh hướng thiên về tinh thần; mang đặc tính mở (lôi cuốn mọi người tìm đến); mục đích nhằm duy trì quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong làng xã” [39, tr.
Theo tác giả Ngô Đức Thịnh thì, “Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới. Nó là tấm gương phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc” [40, tr. Còn theo tác giả Cao Đức Hải, “Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng, xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định” [14, tr. Đây là một cách nhìn có tính hình thức về hiện tượng và có thể bao trùm lên mọi hiện tượng được gọi là hội hè.
Lễ hội là một loại hình văn hóa mang đến cho cộng đồng sự thỏa mãn về mặt tâm linh cũng như tạo ra những hy vọng về nhu cầu sinh tồn của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng. Và trên hết, lễ hội cũng phản ánh những nét đặc trưng về lịch sử và văn hóa của mỗi địa phương và của từng quốc gia qua các phương diện văn học như: truyền thuyết, thần thoại, ca dao…; qua nghệ thuật sân khấu, diễn xướng, dân ca, dân nhạc…; qua phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, lễ hội là một trong những di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, đồng thời ban hành nhiều công ước quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của nó trong đời sống đương đại [68]. Khái niệm về sự kiện Theo Từ điển Tiếng việt (2002): “Sự kiện” là “Cái gì, việc gì quan trọng đã xảy ra”.
Từ “sự kiện” trong tiếng Việt còn được sử dụng để chỉ những sự việc quan trong, sự cố bất ngờ xảy ra ở hầu như tất cả các lĩnh vực của thế giới tự nhiên và đời sống xã hội [59]. 11 Tác giả Cao Đức Hải trong cuốn Quản lý lễ hội và sự kiện đã cho rằng: Từ “sự kiện” không chỉ là một thuật ngữ riêng cho lĩnh vực khoa học về quản lý văn hóa, tuy nhiên do thói quen dùng từ, “sự kiện” trong cụm từ chuyên môn “quản lý sự kiện” đã đi vào đời sống với cách hiểu và cũng là để chỉ những hoạt động quan trọng, tập trung và nổi trội trong đời sống cộng đồng và tổ chức dưới các hình thức thuộc phạm trù văn hóa như: kỷ niệm - nhắc nhở và tôn vinh những giá trị có tính dấu mốc lịch sử của cộng đồng hay cá nhân, phô diễn và tôn vinh những giá trị văn hóa nghệ thuật hay thể thao, truyền thống quảng bá chính trị hay thương mại… Xét về nghĩa từ, thì “sự kiện” có thể bao hàm cả các hình thức lễ hội “sự kiện lễ hội”, nhưng do tính đặc thù về loại hình cũng như tầm quan trọng và quy mô của các sự kiện lễ hội, người ta đã sử dụng cụm từ “Lễ hội và sự kiện” để nhấn mạnh về tầm vóc cũng như sự phức tạp về quản lý các sự kiện lễ hội, trong khi đề cập đến các sự kiện nói chung [14,tr. Trong nhiều năm trở lại đây, lễ hội đương đại hay các sự kiện văn hóa lớn đã diễn ra quanh năm ở khắp vùng miền của Tổ quốc, phong phú và đa dạng cả về tên gọi, số lượng, quy mô, tầm vóc, phạm vi nội dung và hình thức thể hiện… Đó là chính là nhu cầu tất yếu khách quan, là sự cần thiết của một đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ trong thời kỳ hội nhập và phát triển, là sáng tạo nhằm đáp ứng các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, đồng thời cũng là cơ hội để quảng bá hình ảnh đất nước, con người, tiềm năng, thế mạnh của địa phương và đất nước với bạn bè quốc tế. Lễ hội Hoa Phượng đỏ - Hải Phòng được tổ chức thường niên, có thể coi là bước đột phá trong công tác tổ chức sự kiện, quảng bá hình ảnh về mảnh đất và con người của Hải Phòng với bạn bè trong nước và quốc tế; thu hút khách du lịch đến với thành phố…qua đó từng bước 12 hình thành nên một Lễ hội văn hóa lớn, đặc trưng của thành phố gắn với hình ảnh loài Hoa Phượng.
Khái niệm quản lý và quản lý lễ hội 1. Quản lý Thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau. Trong sách Luật hành chính Việt Nam cho rằng: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn những nhu cầu hàng ngày của nhân dân [60, tr. Theo Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước (2003): Hiểu theo nghĩa rộng thì quản lý là hoạt động có mục đích của con người, theo nghĩa hẹp quản lý là sự sắp đặt, trông nom công việc.
Theo nghĩa thông thường và phổ biến thì quản lý là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng để điều chỉnh các quá trình phát triển xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đề ra [19, tr. Tác giả Mai Hữu Khuê trong cuốn Lý luận quản lý nhà nước (2003) xác định rằng: “Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định” [27, tr. Theo quan điểm của tác giả Cao Đức Hải trong cuốn Quản lý lễ hội và sự kiện (2014): 13 Quản lý xã hội là sự tác động đến xã hội, nhằm mục đích duy trì, những đặc điểm về chất, điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển những đặc điểm đó. Quản lý cũng là một khoa học dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật.
Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người thực hiện qua những thể chế xã hội và mục đích nội dung, cơ chế quản lý và phương pháp quản lý các hiện tượng xã hội tùy thuộc vào chế độ chính trị xã hội [14, tr. Như vậy có thể hiểu quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống luật lệ, chính sách, nguyên tắc và phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định. Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ thể bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước. Quản lý lễ hội và sự kiện Lễ hội có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đạo đức lối sống của mỗi người, vì vậy quản lý lễ hội là tạo điều kiện cho lễ hội phát triển theo đúng định hướng phát triển của đất nước và phù hợp với quy luật của thời đại.
Khi bàn về lễ hội, tác giả Nguyễn Hồng Chương cho rằng: Mỗi lễ hội có những nét đặc thù riêng và cách tổ chức khác nhau, nhưng mục đích chung của lễ hội ở nước ta đều dựa trên những nguyên tắc chung và ý nguyện của mỗi người dân, bảo đảm nét văn hoá truyền thống dân tộc và của địa phương, ghi nhận công lao và học tập truyền thống của các bậc tiền nhân trong lịch sử, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với đất 14 nước nói chung, địa phương nói riêng, cầu mong cho dân giàu, nước thịnh, cá nhân và gia đình những điều tốt lành và hạnh phúc. Do đó, công tác quản lý lễ hội luôn được coi trọng và chỉ đạo chặt chẽ nhằm bảo đảm cho người dân tham gia lễ hội thực sự văn minh, an toàn, tiết kiệm [65]. Quản lý nhà nước đối với lễ hội chính là sự tác động của bộ máy nhà nước đối với các hoạt động tổ chức lễ hội nhằm đảm bảo cho công tác tổ chức lễ hội đạt hiệu quả cao nhất.