Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm về hộ tịch Hiện nay các khái niệm về hộ tịch còn chưa đồng nhất “hộ tịch” là một từ ghép Hán chính phụ, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập từ “hộ” có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân cư” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là “ đơn vị để quản lý dân cư”. Giống như là “tịch” được hiểu là “sổ sách” hoặc “sổ đăng ký lệ thuộc”. Tổ hợp hai từ đơn này ghép lại thành danh từ ghép “ hộ tịch” là trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ do đó có nhiều cách giải nghĩa “hộ tịch” khác nhau.
Trong cuốn từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt do Nhà XBVH thể thao xuất bản năm 1999, tác giả Nguyễn Văn Đạm giải “hộ tịch” theo một khia cạnh khác so với các cách giải nghĩa trên:“Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” Đặc biệt trong cuốn Từ điển luật học của Viện Khoa Học Pháp Lý - Bộ Tư Pháp, do Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa và Nhà xuất bản Tư Pháp xuất bản năm 2006 thì “ Hộ tịch: những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết (họ, tên, cha, mẹ, sinh, tử, kết hôn, ly hôn, xác định thành phần dân tộc, quốc tịch.)” “Hộ tịch: được xác định bằng các giấy tờ như: giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, giấy khai tử. Những thay đổi hộ tịch phải được ghi vào giấy tờ hộ tịch, thay đổi họ tên, quốc tịch, cải chính ngày sinh, nuôi con nuôi, ly hôn, chết”. 8 Nhìn chung, nghĩa của từ “hộ tịch” xét về khía cạnh xã hội còn nhiều cách hiểu khác nhau. Theo quan điểm của tôi, đồng tình với cách giải nghĩa “hộ tịch” của cuốn Từ điển luật học của Viện Khoa Học Pháp Lý - Bộ Tư Pháp, do Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa và Nhà xuất bản Tư Pháp xuất bản năm 2006 thì “ Hộ tịch: là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết (họ, tên, cha, mẹ, sinh, tử, kết hôn, ly hôn, xác định thành phần dân tộc, quốc tịch.
Bản thân khái niệm này không dễ định nghĩa một cách rõ ràng, điều đó có nghĩa là việc sử dụng nó không dễ dàng. Khái niêm này được thể hiện định nghĩa trong văn bản pháp quy như: Theo khoản 1, điều 1, Nghị định 158/2015/NĐ-Cp của Chính phủ, ngày 27/12/2015 về đăng ký quản lý hộ tịch: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” (16) Cách định nghĩa này đều mang tính ước định, không cụ thể và rõ ràng, để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển của xã hội Luật hộ tịch số 60/2014/QH13, ngày 20/11/2014, đã ra đời cụ thể được quy định tại Điều 2 và Điều 3 như: “Điều 2. Hộ tịch và đăng ký hộ tịch. Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết.
Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư. Nội dung đăng ký hộ tịch 1. Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: 9 a) Khai sinh; b) Kết hôn; c) Giám hộ; d) Nhận cha, mẹ, con; đ) Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; e) Khai tử. Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: a) Thay đổi quốc tịch; b) Xác định cha, mẹ, con; c) Xác định lại giới tính; d) Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; đ) Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; e) Công nhận giám hộ; g) Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật”. Luật hộ tịch rõ ràng dễ hiều và cụ thể hơn mang tính liệt kê khoa học, không giống như các khái niệm của các văn bản trước đó mang tính ước lệ khó hiểu. Đặc điểm của hộ tịch Có thể nói, hộ tịch có các đặc điểm sau: - Hộ tịch là những giá trị gắn liền với nhân thân của một con người nhìn chung hộ tịch không thể chuyển đổi cho người khác.
Việc đăng ký hộ tịch phải trực tiếp cá nhân người đó liên hệ với các cơ quan quản lý hộ tịch để 10 đăng ký, trừ trường hợp pháp luật quy định khác. - Hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân của một con người từ khi sinh ra đến khi chết đi. Bởi vì, mỗi người chỉ được sinh ra một lần và chết đi. Các dấu hiệu để phân biệt người này với người khác là về cha, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính, ngày tháng năm sinh là nhũng dấu hiệu giúp người ta phân biệt, đây là giá trị nhân thân gắn với một người.
Quản lý nhà nước về hộ tịch a. Khái niệm quản lý nhà nước về hộ tịch Quản lý nhà nước về hộ tịch là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm sự chấp hành pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch và nhằm đảm bảo cho các hoạt động về hộ tịch được diễn ra đúng nguyên tắc, đúng pháp luật. Thể hiện ở chỗ các cơ quan quản lý đăng ký hộ tịch phải tuân thủ pháp luật và đúng nguyên tắc khi đăng ký hộ tịch cho công dân. Đặc điểm quản lý nhà nước về hộ tịch Đặc điểm quản lý nhà nước về hộ tịch được thể hiện ở các đặc điểm sau: - Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là một hoạt động mang tính quyền lực của nhà nước.
Biểu hiện ở chổ các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí của nhà nước phản ánh bằng phương tiện nhất định, trong đó phải nói đến văn bản là phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng để thể hiện ý chí của nhà nước.Việc tổ chức ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chủ thể quản lý thể hiện ý chí của mình dưới dạng các hoạt động áp dụng văn bản pháp luật; dưới dang mệnh lệnh hành chính cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tế để điều hành quản lý về đăng ký quản lý hộ tịch. Tính quyền lực nhà nước còn biểu hiện trong quá trình hoạt động thực thi quyền lực nhà nước bảo đảm thể hiện ý chí của nhà nước như các biện 11 pháp về tổ chức, phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật đến cho mọi đối tượng trong xã hội và biên pháp xử lý vi phạm hành chính, cưởng chế. - Thứ hai, quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch là một hoạt động mang tính thống nhât, được tổ chức một cách đồng bộ, khoa học. Bảo đảm tính pháp chế trong quản lý nha nước về hộ tịch, thì các cơ quan quản lý hộ tịch phải tổ chức thành một khối đồng bộ thống nhất từ trung ương đến cơ sở nhằm đảm bảo điều hành một cách đồng bộ và đồng nhất, không chồng chéo, phải đảm bảo được lợi ích chung của nhà nước.
- Thứ ba, quản lý nhà về hộ tịch là một hoạt động được thực hiện bởi các cơ quan hành chính thuộc bộ máy nhà nước ta hiện nay. Chủ thể đa số thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp. - Thứ tư, quản lý nhà về hộ tịch là một hoạt động mang tính liên tục, thường xuyên diễn ra hàng ngày, hàng giờ vì pháp luật hộ tịch phải điều chỉnh xã hội trong lĩnh vực hộ tịch đối với công dân một cách liên tục không ngừng. Đăng ký hộ tịch là một hoạt động nằm trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã) đăng ký quản lý các sự kiện hộ tịch phát sinh trên địa bàn như: Đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử, đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi, đăng ký nhận cha, mẹ, con, đăng ký giám hộ, chấm dứt giám hộ và đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước. - Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện) đăng ký quản lý các sự kiện hộ tịch phát sinh trên địa bàn có yếu tố nước ngoài như: Đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử, đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi, đăng ký nhận cha, mẹ, con, đăng ký giám 12 hộ, chấm dứt giám hộ và đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc cho người từ đủ 14 tuổi trở lên. Vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch Quản lý nhà về hộ tịch là một hoạt động các sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhận thân của một cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết. “Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và quyền nhân thân của con người được Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định để xác định sự kiện hộ tịch như: quyền thay đổi họ tên; quyền xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền được kết hôn, ly hôn; quyền đối với quốc tịch… Do đó, đăng ký và quản lý hộ tịch là một vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong xã hội.