phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về du lịch trên địa bàn cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về phát triển du lịch trên địa bàn huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc về du lịch trên địa bàn huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Lý luận chung về du lịch 1. Khái niệm du lịch Từ giữa thế kỷ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến. Nhiều nƣớc đã sử dụng chỉ tiêu đi du lịch của dân cƣ nhƣlà một trong những tiêu chí đánh giá chất lƣợng cuộc sống.
Tuy nhiên, khái niệm “Du lịch” đƣợc hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nƣớc phát triển mà còn ở các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dƣới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngƣời có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Thấy rằng, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa.
Do hoàn cảnh khác nhau, dƣới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngƣời có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Theo cách tiếp cận của các đối tƣợng liên quan đến hoạt động du lịch: Đối với người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lƣu trú của họ ở ngoài nơi cƣ trú để thoả mãn các nhu cầu khác nhau: hoà bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác. 9 Đối với người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của ngƣời du lịch và đạt đƣợc mục đích số một của mình là thu lợi nhuận.
Đối với chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ khách du lịch, là tổng hợp các hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho khách du lịch trong việc hành trình và lƣu trú, là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phƣơng, tăng thu ngoại tệ, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân địa phƣơng. Đối với cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tƣợng kinh tế xã hội mà hoạt động du lịch tại địa phƣơng mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá, phong cách của những ngƣời ngoài địa phƣơng mình, vừa là cơ hội để tìm việc làm, phát huy các nghề cổ truyền, tăng thu nhập nhƣng đồng thời cũng gây ảnh hƣởng đến đời sống ngƣời dân sở tại nhƣ về môi trƣờng, trật tự an ninh xã hội, nơi ăn, chốn ở,… Du lịch có thể đƣợc hiểu là: Sự di chuyển và lƣu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cƣ trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng. Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lƣu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cƣ trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Vai trò của du lịch 1.
Vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế Du lịch đóng góp một phần đáng kể trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân 10 ở nhiều quốc gia. Đặc biệt, đối với Việt Nam, ngành du lịch hiện nay đƣợc xem nhƣ là một trong 3 ngành kinh tế mũi nhọn, đƣợc chú trọng đầu tƣ, không ngừng phát triển và có những đóng góp tích cực vào nền kinh tế quốc gia. Du lịch phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế hỗ trợ phát triển theo nhƣ giao thông vận tải, bƣu chính viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ tài chính, dịch vụ lƣu trú và ăn uống. Ngành du lịch phát triển cũng đem lại một thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa rộng lớn, từ đó thúc đẩy tăng trƣởng nhanh tổng sản phẩm kinh tế quốc dân.
Du lịch quốc tế phát triển đem lại nguồn lợi từ thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, hoạt động xuất khẩu tại chỗ và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nƣớc. Ngoài ra, du lịch quốc tế phát triển cũng giúp củng cố và phát triển mối quan hệ kinh tế với các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ thúc đẩy phát triển giao thông quốc tế. Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển xã hội Ngành du lịch tạo ra hàng triệu việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt tạo ra cơ hội việc làm lớn cho các lao động nữ. Ngành du lịch cũng giải quyết việc làm cho nhiều ngƣời dân vùng nông thôn, tạo nên những chuyển biến tích cực trong xã hội, nâng cao mức sống của ngƣời dân và vị thế của phụ nữ trong xã hội.
Ngành du lịch còn góp phần làm giảm quá trình đô thị hóa khi giúp cân bằng lại sự phân bổ dân cƣ và hệ thống cơ sở hạ tầng từ đô thị về nông thôn trong quá trình phát triển du lịch. Nhờ đó, hạn chế những gánh nặng cũng nhƣ tác động tiêu cực do quá trình đô thị hóa gây ra. Du lịch phát triển giúp truyền bá văn hóa với hình ảnh đất nƣớc, con ngƣời Việt Nam cho bạn bè quốc tế, đồng thời cũng là phƣơng tiện quảng bá hàng hóa Việt Nam ra thị trƣờng nƣớc ngoài hiệu quả. Du lịch thúc đẩy và tạo cơ hội cho việc giao lƣu, trao đổi giữa các nền văn hóa trên thế giới, giúp cho con ngƣời hiểu biết lẫn nhau và gắn kết nhau hơn.
11 Mặt khác, du lịch cũng đóng góp một phần tích cực trong việc bảo tồn các di sản văn hóa và thúc đẩy các hoạt động văn hóa có quy mô và chất lƣợng. Có thể nói rằng ngành du lịch đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Quản lý nhà nƣớc về du lịch 1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch QLNN là sự tác động của nhà nƣớc bằng quyền lực nhằm quản lý xã hội, mang tính quyền lực nhà nƣớc; sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội; do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện; nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội QLNN về du lịch là sự tác động bằng quyền lực của Nhà nƣớc đối với ngành du lịch nói chung và các hoạt động du lịch nhằm tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển du lịch góp phần đẩy mạnh kinh tế mà vẫn bảo tồn đƣợc tài nguyên, duy trì và phát triển văn hóa, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch.
Ví dụ về QLNN về du lịch: Đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ lƣu trú du lịch có hành vi thông báo không đầy đủ các nội dung tới cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi có cơ sở lƣu trú du lịch trƣớc khi đi vào hoạt động thì sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 45/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch. Theo đó cơ sở kinh doanh dịch vụ lƣu trú du lịch nếu không thông báo đầy đủ các nội dung tới cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi có cơ sở lƣu trú du lịch thì sẽ bị Phạt tiền từ 500.000 đồng theo Khoản 1 Điều 10 của Nghị định này. Nhƣ vậy, đối với những vi phạm hành chính của các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch thì Nhà nƣớc đã có các quy định xử phạt, điều này thể hiện sự quản lý và tác động của Nhà nƣớc lên các hoạt động du lịch. Kế thừa những quan điểm trên, tác giả đƣa ra khái niệm QLNN về du 12 lịch nhƣ sau: QLNN về du lịch là sự tác động bằng quyền lực của Nhà nước đối với các hoạt động du lịch nhằm tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển du lịch mà vẫn bảo tồn được tài nguyên, duy trì và phát triển văn hoá, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch.
Vai trò của quản lý nhà nước về du lịch Thứ nhất, định hƣớng cho hoạt động du lịch phát triển tích cực, vẫn thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế song vẫn giữ gìn các giá trị truyền thống và bảo tồn tài nguyên du lịch của đất nƣớc. Thứ hai, hình thành và hoàn thiện môi trƣờng pháp lý toàn diện, ổn định cho hoạt động du lịch trong cả nƣớc, cho từng vùng và từng địa phƣơng cụ thể. Thứ ba, dung hoà mối quan hệ và lợi ích giữa du lịch với các ngành kinh tế khác; đảm bảo hài hoà về quyền lợi giữa cộng đồng dân cƣ, nhà đầu tƣ du lịch và khách du lịch.