Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông. Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông trên địa bàn thành phố Hà Nội. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông trên địa bàn thành phố Hà Nội.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. Một số khái niệm cơ bản và đặc điểm của dịch vụ viễn thông 1. Quản lý nhà nước Theo C. 342, “ QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do hệ thống cơ quan Nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật để thực hiện luật pháp Nhà nước.
QLNN là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước.” [17] QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, QLNN được xem là một hoạt động chức năng, đặc biệt QLNN được hiểu theo hai nghĩa (Nghĩa rộng và nghĩa hẹp): Theo nghĩa rộng: “QLNN được hiểu là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực Nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước hay QLNN là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Theo nghĩa hẹp thì, “QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan Nhà nước (hoặc các tổ chức xã hội nếu được Nhà nước ủy quyền) được tiến hành trên cơ sở và để thi hành luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của Nhà nước trên mọi lĩnh vực hành chính – chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội”. Như vậy, QLNN bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của nhà nước. Hoạt động QLNN chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được ủy quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định.
Dịch vụ viễn thông Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác. Các dịch vụ viễn thông đầu tiên theo nghĩa này là điện báo và điện thoại. Ngày nay các thiết bị viễn thông là một thành phần cơ bản của hệ thống hạ tầng. Theo quy định tại Điều 37 – Nghị định số 109/1997/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/11/1997, dịch vụ viễn thông được hiểu là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát, thu những ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp.
Theo Luật viễn thông, dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng. Tóm lại, dịch vụ viễn thông là kết quả tất yếu được nảy sinh từ nhu cầu sản xuất ra các phương thức, phương tiện truyền tải thông tin nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội và nhu cầu đời sống con người. Quá trình truyền tải thông tin không những thường gắn liền với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hoặc giữa các quá trình đó với nhau. Nó còn được xác định bằng đại lượng thời gian, không gian truyền tin.
Quá trình truyền tải thông tin ban đầu được thực hiện thông qua dịch vụ , nhưng dưới tác động của nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ, dịch vụ viễn thông đã được hình thành và phát triển nhanh với nhiều loại hình phong phú, đa dạng. Dịch vụ viễn thông thể hiện mối quan hệ giữa các chủ thể cung cấp và thụ hưởng dịch vụ truyền tải thông tin thông qua hoạt động của ngành viễn thông. Quản lý nhà nước về kinh tế Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra. Vai trò của QLNN về kinh tế thể hiện trước hết và rõ nhất ở vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế, cụ thể là: - Đại diện cho nhân dân để quản lý nền kinh tế vì lợi ích của nhân dân và đất nước: Nhà nước xã hội chủ nghĩa là người chủ sở hữu tài sản công, vừa là người đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động, vì thế chức năng quản lý kinh tế là một tất yếu khách quan.
Chỉ có sự quản lý kinh tế của Nhà nước, nền kinh tế mới có thể phát triển bền vững, chế độ người bóc lột người và bất công xã hội mới được xoá bỏ, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, vai trò của Nhà nước có được phát huy hay không còn tuỳ thuộc vào kết quả đổi mới và cải cách về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ, về cơ chế quản lý và phương pháp điều hành. Nói tóm lại là tuỳ thuộc vào phẩm chất và năng lực cán bộ trong bộ máy quản lý kinh tế - xã hội các cấp. - Là “nhạc trưởng” điều tiết, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất - kinh doanh: Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế được tự do tiếp cận nhu cầu thị trường để lựa chọn và quyết định chiến lược kinh doanh của mình, bao gồm chiến lược tài chính, nhân sự, kỹ thuật - công nghệ, liên doanh liên kết, tiêu thụ sản phẩm.
Bằng các công cụ quản lý vĩ mô, mà trước hết là công cụ pháp luật. Nhà nước tạo hành lang và điều phối hoạt động nhằm khuyến khích cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế. Mặt khác, trong xu thế đa dạng hoá và đa phương hoá các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, Nhà nước giữ vai trò là người hướng dẫn cho các doanh nghiệp, địa phương và ngành kinh tế hoà nhập vào thị trường thế giới để vừa đảm bảo các bên đều có lợi, vừa giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. - Phát huy các mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường: Cơ chế thị trường là cơ chế năng động, linh hoạt, vì thế nó thúc đẩy quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động và tạo ra sự phong phú đa dạng các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Bên cạnh đó, cơ chế thị trường tiềm ẩn những khuyết tật vốn có của nó như: độc quyền, vấn đề cung ứng hàng hoá công cộng, hiện tượng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 ngoại ứng, thông tin bất cân xứng, chu kỳ kinh doanh, thị trường không hoàn thiện, phân hoá giàu nghèo. Nhà nướccó vai trò quyết định trong việc hạn chế đi đến xoá bỏ những khuyết tật trên đây thông qua quyền lực và lực lượng cơ sở vật chất to lớn của mình. Từ vai trò trên có thể thấy: Thực chất của QLNN về kinh tế là việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài nước mà nhà nước có khả năng tác động vì mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó, vấn đề con người, tổ chức và tạo động lực lớn nhất cho con người hoạt động trong xã hội là vấn đề có ý nghĩa then chốt.
QLNN về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng, đó là các quy luật và vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội. c chức n ng c bản c a quản lý nhà nước về kinh tế - Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước bao gồm các mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ và những giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu và phương hướng đó. Muốn xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội có cơ sở khoa học, nhất thiết phải tiến hành hoạt động dự báo. Đó là các dự báo về tài nguyên thiên nhiên, thị trường, sự biến động của kinh tế thế giới, sự phát triển của khoa học - công nghệ.
Trong đó dự báo về khoa học - công nghệ là quan trọng nhất bởi vì nó làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội mà trước hết là lĩnh vực kinh tế. Nội dung của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gồm: + Hệ thống quan điểm cơ bản của chiến lược. + Hệ thống mục tiêu chiến lược: Kết quả mong đợi, cần có và có thể có của hệ thống kinh tế quốc dân khi kết thúc thời kỳ chiến lược. Mục tiêu chiến lược xác định cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như các phân hệ của nó.
Các mục tiêu bộ phận gắn liền với việc giải quyết các vấn đề của kinh tế - xã hội như: tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo,. Những mục tiêu này phải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 thể hiện một cách tập trung những biến đổi quan trọng nhất về chất của nền kinh tế - xã hội. + Những nhiệm vụ và giải pháp chiến lược: là những công việc phải thực hiện trong suốt thời kỳ chiến lược nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lược. Từ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước cụ thể hoá thành các kế hoạch phát triển, bao gồm kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.