Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG CÓ NGUỒN VỐN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Lý luận về đầu tư xây dựng cơ bản đối với công trình xây dựng dân dụng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước 1. Một số khái niệm 1. Đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, nằm trong giai đoạn thực hiện đầu tư.
Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB (Từ khảo sát quy hoạch đầu tư, thiết kế và xây dựng cho đến khi lắp đặt thiết bị để hoàn thiện việc tạo ra cơ sở vật chất) nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Ngân sách Nhà nước: Theo quy định tại Điều 1, Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về ngân sách Nhà nước: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Công trình xây dựng dân dụng Theo điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 và một số luật và tài liệu tham khảo khác: Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, 9 Luan van quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình.[16] Theo điều 3 Luật xây dựng số 50/2014/QH13 và QCVN 03:2012/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nguyên tắc phân loại, phân cấp công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị, thì: Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.[16] Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Trong đó: Công trình dân dụng là công trình xây dựng bao gồm các loại nhà ở, nhà và công trình công cộng.[16] Nhà (tòa nhà) là công trình xây dựng có chức năng chính là bảo vệ, che chắn cho người hoặc vật chứa bên trong; thông thường được bao che một phần hoặc toàn bộ và được xây dựng ở một vị trí cố định.
Nhà ở gồm nhà chung cư và nhà riêng lẻ. Công trình công cộng gồm: công trình văn hóa; công trình giáo dục; công trình y tế; công trình thương nghiệp, dịch vụ; nhà làm việc; khách sạn, nhà khách; nhà phục vụ giao thông; nhà phục vụ thông tin liên lạc, tháp thu phát sóng phát thanh, phát sóng truyền hình; nhà ga, bến xe; công trình thể thao các loại. Qua việc khái quát các khái niệm có liên quan ở trên, có thể rút ra khái niệm về công trình xây dựng dân dụng của doanh nghiệp xây dựng như sau: Công trình xây dựng dân dụng là những công trình phục vụ cho hoạt động chung của cộng đồng hoặc được dùng làm nhà ở và các tiện ích xã hội 10 Luan van khác được xây dựng dựa trên hoạt động lập kế hoạch, khảo sát, thiết kế, lựa chọn nhà thầu, thi công, giám sát thi công các công trình nhà ở, nhà và công trình công cộng. Xây dựng công trình dân dụng là một lĩnh vực rất rộng, đa dạng, phức tạp, đòi hỏi chủ thể quản lý (hoặc chủ đầu tư) phải có tiềm lực lớn về vốn, kỹ thuật để thực hiện hoạt động xây dựng khác.
Đầu tư xây dựng công trình dân dựng Xây dựng dân dụng là các hoạt động cụ thể tạo ra sản phẩm là các công trình xây dựng có quy mô; là quá trình hoạt động bao gồm nhiều khâu (khảo sát thiết kế, xây dựng, lắp đặt) để tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) theo yêu cầu kỹ thuật quy định. Kết quả của hoạt động xây dựng dân dụng là các TSCĐ, có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định. Như vậy, xây dựng dân dụng là một quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng có kế hoạch các TSCĐ của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất. Nó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho một quốc gia.
Xây dựng dân dụng được thực hiện dưới nhiều phương thức khác nhau như xây dựng mới, xây dựng lại, khôi phục, mở rộng, nâng cấp TSCĐ. - Xây dựng mới: là hoạt động xây dựng dân dụng tạo ra TSCĐ mới như công trình hạ tầng kỹ thuật mới , đó là xây dựng công trình giao thông mới, trụ sở làm việc mới,. - Xây dựng lại: là hoạt động xây dựng dân dụng từ các TSCĐ đã có, song hiện không thể sử dụng mà cần được xây dựng lại trên cơ sở TSCĐ đã có như xây dựng lại trụ sở, công trình đường giao thông,. - Khôi phục, mở rộng, nâng cấp TSCĐ: là hoạt động xây dựng dân dụng trên cơ sở những TSCĐ đã có, được khôi phục chức năng sử dụng, hoặc mở rộng quy mô như đường giao thông, công trình công cộng,.
hoặc nâng cấp TSCĐ sau một thời gian sử dụng. 11 Luan van Các hoạt động xây dựng dân dụng luôn được thực hiện trong những khoảng thời gian và không gian nhất định nên thường có một số đặc điểm chung sau: - Hoạt động thiếu tính ổn định, có tính lưu động cao theo lãnh thổ - Thời gian xây dựng công trình dài, chi phí sản xuất lớn - Quá trình sản xuất mang tính tổng hợp, cơ cấu sản xuất phức tạp, các công việc xen kẽ và ảnh hưởng lẫn nhau trong các giai đoạn - Sản xuất xây dựng nói chung được thực hiện ở ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới các hoạt động của quá trình xây dựng Ở đây có sự phân biệt giữa hai khái niệm đầu tư và đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình xây dựng dân dụng. - Nói đến đầu tư là nói đến hoạt động bỏ vốn nói chung nhằm đạt được hiệu quả lớn hơn trong tương lai; không phân biệt nguồn vốn, cơ cấu vốn, quy mô và hình thức đầu tư. Như vậy, bất kỳ hoạt động bỏ vốn nào nhằm mục đích thu hiệu quả cao hơn như: mua công trái, trái phiếu, cổ phiếu hay gửi tiết kiệm hoặc xây dựng hạ tầng KT-XH, kinh doanh thương mại, dịch vụ.
đều được gọi là hoạt động đầu tư. - Đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình xây dựng dân dụng là một hình thức đầu tư mà mục đích bỏ vốn được giới hạn ở kết quả đầu ra là những sản phẩm xây dựng, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng của nền KT- XH. Đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình xây dựng dân dụng đóng vai trò quyết định, gắn liền với việc nâng cao cơ sở vật chất của nền kinh tế và năng lực sản xuất của tổ chức kinh tế doanh nghiệp. Nó đòi hỏi một khoản vốn lớn và cần được tính toán chuẩn xác, quản lý một cách chặt chẽ; nếu không sẽ dẫn đến sự lãng phí tiền của rất lớn của đất nước [1].
Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình xây dựng dân dụng Vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình xây dựng dân dụng từ nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) là điều kiện tiền đề cho một nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và nó đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển KT - XH của mỗi quốc gia và địa phương, cụ thể là: Thứ nhất, vai trò cân đối nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, do cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận, nên một số ngành kinh tế sẽ phát triển mất cân đối như các ngành mang tính phúc lợi xã hội phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân khả năng thu hồi vốn thấp hoặc ít lợi nhuận thì ít được đầu tư vào; trong trường hợp đó vốn từ nguồn NSNN đã góp phần quan trọng cân đối điều chỉnh cơ cấu ngành, vùng, lãnh thổ, tạo nên sự cân đối đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình xây dựng dân dụng từ NSNN mà vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước được thực hiện. Qua đó, Nhà nước có thể triển khai các dự án, công trình trọng điểm nhằm điều chỉnh, cân đối, phát triển kinh tế vĩ mô theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thứ hai, vai trò thực hiện chính sách xã hội Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh những ưu điểm của nền kinh tế thị trường thì vẫn còn tồn tại những hạn chế hay khuyết tật của nền kinh tế thị trường như sự phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch về điều kiện sống giữa các khu vực thành thị, nông thôn, vùng miền.
ngày càng gia tăng. Để giảm bớt sự chênh lệch đó, tạo sự công bằng xã hội, Nhà nước cần có chính sách xã hội; vốn xây dựng dân dụng từ nguồn NSNN để xây dựng các công trình phúc lợi là công cụ quan trọng nhất, hiệu quả nhất và chủ động nhất để thực hiện các chính sách đó. Thông qua nguồn vốn ngân sách, Nhà nước ta đã thực hiện các 13 Luan van chương trình phát triển nông thôn, chương trình tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo. tạo điều kiện phát triển kinh tế các vùng sâu, vùng xa; giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền; giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội.
Thứ ba, vai trò thu hút mọi nguồn vốn đầu tư khác Nhờ nguồn vốn từ NSNN, cơ sở hạ tầng phát triển đã tạo điều kiện tiền đề giúp các thành phần kinh tế phát triển, còn đối với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì vốn xây dựng dân dụng từ nguồn NSNN được coi là “vốn mồi” thu hút vốn đầu tư vào phát triển tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội, góp phần giải ngân các nguồn vốn ODA, FDI.