CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CÔNG TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG BỘ 1. Lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan về hoạt động đầu tư công và quản lý nhà nước hoạt động đầu tư công trong xây dựng công trình đường bộ 1. Những nghiên cứu trong nước 1. Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về đầu tư công nói chung Vấn đề đầu tư công và quản lý hoạt động đầu tư công trong xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung và xây dựng công trình đường bộ nói riêng đã trở thành vấn đề quan tâm của rất nhiều chính phủ và các nhà khoa học, nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể: Nghiên cứu của Vũ Tuấn Anh (2010) với đề tài “Tóm tắt về tình hình đầu tư công ở Việt Nam trong mười năm qua” cho thấy tỉ trọng đầu tư công so với GDP ở Việt Nam ngày càng giảm không phải do Nhà nước đã hạn chế bớt đầu tư công, mà là do các khu vực kinh tế khác của nền kinh tế có tốc độ tăng cao hơn và chính sách trong thời gian qua chỉ tập trung cho kinh tế là không đúng luật.
Đầu tư công cũng cần quan tâm đến cả những phúc lợi xã hội cho người dân. Công trình “Các giải pháp nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước theo tinh thần nghị quyết đại hội XI của Đảng” của Trần Kim Anh và cộng sự (2013) tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý, chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư từ ngân sách nhà nước. Nghiên cứu đã đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư ngân sách nhà nước cả về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội. Trần Văn Hồng (2002) với đề tài luận án tiến sĩ “Đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước” đã hệ thống hóa, mở rộng những lý luận về vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước, cơ chế quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước, cơ chế quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước.
Luận án đã phân tích cơ chế quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước Việt Nam và rút ra những ưu điểm, nhược điểm của cơ chế quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước trong giai đoạn này. Vận dụng những bài học kinh nghiệm từ quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng vốn đầu tư 5 xây dựng cơ bản của nước ta và các nước trên thế giới, kết hợp với những lý luận đã được nghiên cứu, luận án đã đưa ra những kiến nghị nhằm đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước như xác định đúng đối tượng đầu tư theo nguồn ngân sách, tín dụng nhà nước; chuyển từ hình thức cấp phát trực tiếp không hoàn lại sang hình thức cho vay để xóa bỏ bao cấp. Hạn chế sự can thiệp hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước vào đầu tư của doanh nghiệp. Tác giả Tạ Văn Khoái (2009) với đề tài luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam”, nghiên cứu quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước trên các giai đoạn của chu trình dự án, chủ yếu là cấp ngân sách trung ương trong phạm vi cả nước gồm các nội dung: hoạch định, xây dựng khung pháp luật, ban hành và thực hiện cơ chế, tổ chức bộ máy và kiểm tra, kiểm soát.
Luận án đã chỉ ra các hạn chế, bất cập trên nhiều mặt như: khung pháp luật chưa đồng bộ, cơ chế quản lý còn có điểm lạc hậu, năng lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu, từ đó làm rõ các nguyên nhân chủ quan từ bộ máy, cán bộ quản lý cũng như những hạn chế của dự án qua việc đầu tư phân tán, dàn trải, sai phạm và hiệu quả kém. Luận án cũng đã đưa ra 6 nhóm giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước đặc biệt là đề xuất xây dựng và thực thi chương trình phát triển dự án; đề xuất mô hình hợp tác giữa nhà nước và tư nhân, mô hình “mua” công trình theo phương thức tổng thầu, chìa khóa trao tay; phân bổ ngân sách theo đời dự án; áp dụng phương thức quản lý dự án theo đầu ra và kết quả; kiểm soát thu nhập của cán bộ quản lý; kiểm toán trước khi quyết định đầu tư phê duyệt dự án; kiểm toán trách nhiệm kinh tế người đứng đầu, kiểm toán theo chuyên đề; tăng cường các chế tài xử lý trách nhiệm cá nhân người đứng đầu. Luận án tiến sĩ: “Giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của tác giả Phan Thanh Mão tại Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2003 đã hệ thống hóa, phân tích những vấn đề lý luận về chi ngân sách nhà nước đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước. Luận án đã đưa ra sáu giải pháp từ chính sách chung của nhà nước về quản lý vốn ngân sách dành cho đầu tư phát triển đến giải pháp nghiệp vụ tài chính nói chung và công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn Nghề An nói riêng.
Luận án cũng đưa ra các kiến nghị đối với Nhà nước, các cấp, 6 các ngành sửa đổi, bổ sung công tác quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách các cấp, các địa phương trong đó có các chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ cấp phát, cho vay vốn ngân sách nhà nước và tổ chức bộ máy quản lý tài chính đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước dành cho xây dựng cơ bản. Luận án tiến sĩ kinh tế: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách nhà nước do thành phố Hà Nội quản lý” của tác giả Cấn Quang Tuấn tại Học viện Tài chính năm 2009 đã đề cập một số vấn đề lý luận về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách nhà nước, từ đó phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội quản lý. Luận án tiến sĩ: “Đổi mới và hoàn thiện chính sách đầu tư công cho vùng trung bộ vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững” của tác giả Hoàng Dương Việt Anh tại Học viện Khoa học xã hội năm 2014 đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tư công, chính sách đầu tư công vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững; phân tích, đánh giá vai trò và tác động của đầu tư công đến phát triển nhanh và bền vững vùng Trung Bộ từ đó làm sáng tỏ những vấn đề đang đặt ra đối với chính sách đầu tư công tại vùng này; Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện chính sách đầu tư công vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Luận án tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam” của tác giả Phạm Minh Hóa (2017) đã hệ thống hóa lý luận về đầu tư công, nghiên cứu các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công, đánh giá thực trạng đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn trước 2016.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam. Những nghiên cứu quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư công trong xây dựng công trình đường bộ Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về đầu tư công trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông nói chung và công trình đường bộ nói riêng. Một số nghiên cứu điển hình là: Luận án tiến sĩ với đề tài “Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của tác giả Trần Minh Phương (2012). Đề tài này đã: Đề nghị tăng cường và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và tính khả 7 thi thực hiện kế hoạch thông qua xây dựng Luật Quy hoạch và thành lập Ủy ban Giám sát quy hoạch; đề nghị thực hiện tốt các quy định về đấu thầu, công khai minh bạch trong lựa chọn nhà thầu.
Luận án tiến sĩ với đề tài “Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2030 theo hướng hiện đại” của tác giả Đỗ Đức Tú (2012). Đề tài này đã đưa ra ba nguyên tắc về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng hiện đại, bao gồm: đồng bộ, đi trước một bước, tầm nhìn dài hạn. Đưa ra các chỉ tiêu và tiêu chí phản ánh tính hiện đại và đồng bộ của kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm: tỷ lệ đường cao tốc; tốc độ xe chạy cho phép; cấp đường bộ. Chỉ ra mười giải pháp nhằm phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bằng Sông Hồng đến năm 2030 theo hướng hiện đại, trong đó có mục tiêu tăng cường sự phối hợp giữa các cấp các ngành; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch.
Luận án tiến sĩ với đề tài: “Nghiên cứu phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” của tác giả Đặng Trung Thành (2012). Đề tài này đã chỉ ra các điều kiện để phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông vùng, trong đó có “Quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông vùng”; “Hoàn thiện cơ chế chính sách trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng”; “Hoàn thiện công tác quy hoạch” và cho rằng để công tác quy hoạch mang tính khả thi thì công tác quy hoạch cần mang tính “liên ngành”. Đưa ra giải pháp “Thành lập quỹ đường bộ” trên cở sở hình thành quỹ qua thuế xăng dầu, qua săm lốp, qua tải trọng xe .