Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đất đai 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về đất đai Trong nền sản xuất, đất đai giữ vị trí đặc biệt quan trọng.
Đất đai là điều kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới. Đất đai là khởi điểm tiếp xúc và sử dụng tự nhiên ngay sau khi nhân loại xuất hiện. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần, tất cả các kỹ thuật vật chất và văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất đai. Theo theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 14/2012/TT-BTNMT về Quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, đất đai được hiểu như sau: “Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người”.
Luật đất đai 2013 cũng đã khẳng định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người. Do vậy, để có thể sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết.
Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai a. Quản lý nhà nước Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật. Nhà nước quản lý toàn dân là nhà nước quản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những người không phải là công dân. Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ.
Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luật quy định. Nhà nước quản lý bằng pháp luật là nhà nước lấy pháp luật làm công cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh. Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước (Mai Văn Bưu, 2013). Quản lý nhà nước là các công việc của nhà nước, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước; cũng có khi do nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu hoặc do các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội thực hiện nếu được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước.
Quản lý nhà nước thực chất là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Chính phủ là hệ thống cơ quan được thành lập để chuyên thực hiện hoạt động quản lý nhà nước (Mai Văn Bưu, 2013). Quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai có thể có nhiều nghĩa khác nhau tại các nước khác nhau. Quản lý nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với quản lý 7 đất đai, tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền sử dụng đất. Cụ thể hơn, đây là quá trình nhà nước quản lý đất đai thuộc sở hữu của nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau.
Quản lý nhà nước về đất đai là toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước ta căn cứ vào cơ sở pháp luật để điều chỉnh các nội dung quản lý đất đai từ Trung ương đến địa phương trong việc phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ đất đai; điều chỉnh các hành vi của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất hướng tới mục đích bảo vệ quỹ đất đai trên toàn quốc, giữ gìn, tôn tạo, quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả theo định hướng của nhà nước (Trần Thanh Hùng, 2014). Quản lý nhà nước đối với đất đai là sự tác động liên tục, có định hướng mục tiêu của bộ máy nhà nước lên đối tượng sử dụng đất, nhằm thực hiện mục tiêu chung đề ra trong những điều kiện và môi trường kinh tế nhất định, trên nguyên tắc cao nhất (nhà nước là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai trực tiếp tham gia vận hành thị trường), để thực hiện quyền về kinh tế của sở hữu và các chức năng khác của nhà nước. Khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, đồng thời có biện pháp báo vệ đất và môi trường sống theo hướng sử dụng bền vững quĩ đất. Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai 1.
Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy, không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được. Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Vấn đề này được quy định tại Luật Đất đai 2013 "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do 8 Nhà nước đại diện chủ sở hữu", "Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai", "Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các chính sách tài chính về đất đai" (Trần Thanh Hùng, 2014).
Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng Theo Luật dân sự 2015 thì quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất đai hoặc chủ sử dụng đất đai khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng. Từ khi Hiến pháp 1980 ra đời quyền sở hữu đất đai ở nước ta chỉ nằm trong tay Nhà nước còn quyền sử dụng đất đai vừa có ở Nhà nước, vừa có ở trong từng chủ sử dụng cụ thể. Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai mà thực hiện quyền sử dụng đất đai thông qua việc thu thuế, thu tiền sử dụng.
từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai. Vì vậy, để sử dụng đất đai có hiệu quả Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước. Vấn đề này được thể hiện ở Luật Đất đai 2013 "Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất". Tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế.
Thực chất quản lý đất đai cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên cũng phải tuân theo nguyên tắc này. Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả. Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng việc: Xây dựng tết các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao; Quản lý và giám sát tết việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Có như 9 vậy, quản lý nhà nước về đất đai mới phục vụ tết cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sử dụng tiết kiệm đất đai nhất mà vẫn đạt được mục đích đề ra (Trần Thanh Hùng, 2014).
Vai trò quản lý Nhà nước về đất đai Theo Trần Thanh Hùng (2014) thì quản lý nhà nước về đất đai có những vai trò như sau: - Ban hành hệ thống văn bản pháp luật, tạo môi trường pháp lý cho quản lý và SDĐ trong thị trường bất động sản. Luật đất đai quy định nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, quy định khung giá các loại đất, quy định quyền và nghĩa vụ của người SDĐ và một hệ thống văn bản pháp quy khác. Chính phủ ban hành Nghị định và các Bộ, ngành Trung ương cụ thể hóa bằng các thông tư hướng dẫn trong những lĩnh vực liên quan đến quản lý và SDĐ đai. Trên cơ sở đó tạo được một môi trường pháp lý thuận lợi cho quản lý và SDĐ trong thị trường bất động sản giúp cho thị trường hoạt động sôi nổi và đúng theo pháp luật, hạn chế tình trạng SDĐ tùy tiện, lãng phí, Nhà nước khó kiểm soát được hoạt động mua bán, chuyển nhượng… bất động sản từ chủ thể này sang chủ thể khác.
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch SDĐ định hướng cho quản lý và SDĐ trong thị trường bất động sản.