Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015 – 2017 Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Cao Bằng Chư ng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ quố dâ 1.1 Khái niệm, các hình thức và đặc đi m c đào tạo ngh 1.1 Nghề Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong. Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ. Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời.
Nghề là hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến, gắn chặt sự phân công lao động xã hội với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại, nó 6 được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn, sinh sống của con người và đáp ứng yêu cầu phát triển KT- XH theo nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng. Theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định, cho đến nay thuật ngữ “Nghề” đƣợc hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Sau đây là một số khái niệm chung về nghề của một số nước: - Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa như sau: nghề là một loại hoạt động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn.
- Còn ở Đức, khái niệm nghề được định nghĩa: nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó. - Khái niệm nghề được định nghĩa ở Pháp: nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của con người để từ đó tìm được phương tiện sống. - Ở Việt Nam theo chương trình hướng nghiệp VIE Thanh Niên thì: nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể khái quát một số nét đặc trưng nhất của nghề như sau: - Nghề gắn liền với những kiến thức và kỹ năng.
Những kiến thức và kỹ năng này không phải tự nhiên có được mà là do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm; - Nghề là một công việc chuyên làm; 7 - Là phương tiện sinh sống gắn với cả cuộc đời hoặc phần lớn cuộc đời người lao động; - Bao gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay; - Phù hợp với yêu cầu của xã hội. Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển KT – XH của mỗi quốc gia nói riêng. Vì vậy phạm trù “Nghề” biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển KT – XH của đất nước.2 Đào tạo nghề: Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng xuất và hiệu quả. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đối hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư, “đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững các tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định” [32]. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: ĐTN là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao. ĐTN là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau một thời gian nhất định người học có thể đạt được một trình 8 độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2015 định nghĩa: “ĐTN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”.
ĐTN bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau: dạy nghề là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có đƣợc một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Nguyên lý và phương châm của ĐTN: học đi đôi với hành; lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho ngƣời học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện. Nói chung, ĐTN là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định.
Hay nói cách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai. ĐTN phục vụ cho mục tiêu KT – XH, trước hết là phương hướng phân công lao động mới, tạo cơ hội cho mọi người đều được học tập nghề nghiệp để dễ dàng tìm kiếm việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.3 Các hình thức và đặc điểm của đào tạo nghề a. Các hình thức đào tạo nghề như sau: - Theo trình độ đào tạo: Đào tạo nghề chia thành 3 trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, TCN, CĐN. 9 - Theo hình thức đào tạo: Đào tạo nghề chia thành 2 loại là Đào tạo nghề chính quy và Đào tạo nghề thường xuyên.
- Theo hình thức và tính chất sở hữu của cơ sở đào tạo: Đào tạo nghề chia làm 3 loại là Đào tạo nghề của các cơ sở công lập, Đào tạo nghề của các cơ sở tư thục và Đào tạo nghề của cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài. - Theo nghề đào tạo đối với người học: Đào tạo nghề chia làm 3 loại là đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo nâng cao. Đặc điểm chung của đào tạo nghề - Đào tạo nghề là hình thành nhân cách người lao động mới. Khác với giáo dục phổ thông, Đào tạo nghề là đào tạo cho người học có được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp ở trình độ nhất định để có thể làm việc theo nghề đó sau khi tốt nghiệp, đồng thời giáo dục cho học sinh những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất.
Đó chính là phẩm chất, năng lực tạo nên nhân cách người lao động mới mà đào tạo nghề phải mang lại cho người học trong quá trình đào tạo nghề. - Đào tạo nghề gắn liền với quá trình sản xuất. Đặc thù cơ bản của đào tạo nghề là hoạt động dạy - học gắn liền với quá trình sản xuất. Mối liên quan này chặt chẽ hơn nhiều so với mối liên quan giữa dạy khoa học cơ bản với quá trình nhận thức khoa học.
Để nắm vững được nội dung khoa học cơ bản không đòi hỏi phải lặp đi lặp lại toàn bộ quá trình nhận thức khoa học đã hình thành ra nội dung này. Còn muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì phải trực tiếp nhìn nhận quá trình sản xuất hay ít nhất được thấy mô hình của nó (thiết bị luyện tập). Những mặt cơ bản của quá trình sản xuất gồm: đối tượng lao động (tự nhiên, nhân tạo, nguyên vật liệu, bán thành phẩm) phương tiện lao động (công cụ cầm tay, bằng máy, bán tự động và tự động hoá) quá trình công nghệ và quá trình hỗ trợ (phụ); quá trình lao động (hành động, động tác, 10 thao tác, cách thức) và sản phẩm lao động. Trong nhiều năm trước đây, con người được sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động để có được sản phẩm.
Ngày nay, con người tác động lên đối tượng lao động thông qua các phương tiện điều khiển phức tạp. Như vậy nội dung lao động của người công nhân và nội dung, phương pháp Đào tạo nghề trước hết phụ thuộc vào cơ sở kỹ thuật của sản xuất và thay đổi cùng với sự phát triển của nó. Muốn Đào tạo nghề có kết quả cần phải có một số điều kiện cơ bản sau: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, quỹ thời gian để luyện tay nghề, có đội ngũ giáo viên, giảng viên lý thuyết và thực hành vừa giỏi kỹ thuật, vừa giỏi nghiệp vụ sư phạm. Đặc biệt phải tính đến và sử dụng các thành tựu của các lĩnh vực: kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất và tổ chức lao động khoa học.
Thiếu điều này Đào tạo nghề không thể đạt hiệu quả cao. - Đào tạo nghề là dạy thực hành sản xuất Nói đến đào tạo nghề người ta thường nói đến dạy lý thuyết và dạy thực hành sản xuất.