Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Khái quát về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Lao động nông thôn 1. Khái niệm lao động nông thôn Khái niệm về lao động, như đã được trình bày trong giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lenin, xác định lao động là một hoạt động của con người có mục tiêu và ý thức, nhằm sản xuất các sản phẩm để đáp ứng các nhu cầu xã hội.
Đây được coi là một hoạt động sáng tạo và đặc trưng của con người, khác biệt hoàn toàn so với các hoạt động bản năng của động vật. Khái niệm về lao động nông thôn, trong bối cảnh của Việt Nam, là một định nghĩa được quy định bởi Luật Lao động. Lao động nông thôn là thuật ngữ dùng để ám chỉ những người sống và làm việc tại nông thôn, và nằm trong độ tuổi lao động quy định bởi pháp luật. Cụ thể, nam giới được xem là lao động nông thôn từ 16 đến 60 tuổi, trong khi nữ giới được xem là lao động nông thôn từ 16 đến 55 tuổi.
Lực lượng lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, đang có công việc, và cũng bao gồm những người thất nghiệp nhưng đang tìm kiếm cơ hội làm việc. Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của công việc ở nông thôn, với sự biến đổi theo mùa và đặc điểm riêng, nên lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không giới hạn ở những người trong độ tuổi lao động mà còn bao gồm những người trẻ hơn hoặc lớn hơn độ tuổi lao động, tham gia vào các công việc phù hợp với khả năng của họ. Từ đây, ta có thể thấy rằng lực lượng lao động ở nông thôn là đa dạng và đồi dào, tuy nhiên, điều này cũng đặt ra thách thức trong việc quản lý và cung cấp việc làm ở nông thôn. Đặc điểm của lao động nông thôn Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng.
Đặc điểm này làm cho việc hợp tác lao động và bồi dưỡng đào tạo, cung cấp thông tin cho lao động nông thôn là rất khó khăn. Đặc điểm này thể hiện qua những luận điểm sau: Lao động nông thôn có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp. Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp. Vì vậy, lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống hoặc theo thói quen là chính.
Điều đó làm cho lao động nông thôn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và việc thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn Lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là vùng nông thôn thuần nông. Vì vậy, việc sử dụng lao động nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Muốn giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn thì phải làm mọi biện pháp nhằm hạn chế tối đa tính thời vụ bằng cách phát triển đa dạng ngành nghề trong nông thôn. Lao động nông thôn có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả năng năm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hoạch toán hạn chế.
Do đó, khả năng giao lưu và phát triển sản xuất hàng hóa chậm phát triển. Phân loại lao động nông thôn Việc phân loại lao động nông thôn nhằm đánh giá chất lượng nguồn lao động và tình hình sử dụng và phân công lao động trong nông thôn. Theo trình độ phổ thông của người lao động có thể chia theo các mức độ sau: Chưa tốt nghiệp tiểu học Tốt nghiệp tiểu học Tốt nghiệp trung học cơ sở 10 Tốt nghiệp trung học phổ thông Việc phân chia và tính được chính xác tỷ lệ lao động có trình độ giáo dục khác nhau là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng nguồn lao động nông thôn. Trình độ trung học phổ thông là trình độ cơ sở rất quan trọng tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tự học hỏi, tiếp thu và áp dụng những kỷ thuật mới vào sản xuất và kinh doanh.
Sự hiểu biết về pháp luật, việc xây dựng đời sống văn minh, hiệu quả của các chính sách phát triển nông nghiệp… phụ thuật rất lớn vào trình độ văn hóa của người lao động. Vì vậy, việc đánh giá đúng trình độ văn hóa của lao động nông thôn là cơ sở quan trọng để đưa ra những biện pháp đào tạo và chuyển giao khoa học kỷ thuật một cách hợp lý nhất Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật Trình độ trung cấp Trình độ cao đẳng và trình độ đại học Trình độ trên đại học Việc nắm bắt được trình độ chuyên môn của các lao động nông thôn tạo điều kiện cho việc đào tạo nguồn nhân lực chủ chốt, cán bộ chuyên trách. Tạo tiền đồ cho việc chuyển giao khoa học – công nghệ làm thúc đẩy quá trình phát triển CNH – HĐH ở nông thôn. Theo nhóm tuổi: Có thể chia lao động nông thôn thành 3 nhóm tuổi: Nhóm lao động trẻ: từ 15 tuổi đến 34 tuổi Nhóm lao động trung niên: từ 35 tuổi đến 54 tuổi Nhóm lao động cao tuổi: từ 55 tuổi trở lên Việc chia lực lượng lao động nông thôn theo nhóm tuổi như trên cho phép nắm được cơ cấu tuổi đời của lực lượng lao động, tình hình biến động của lực lượng lao động và tình việc làm của mổi nhóm tuổi từ đó tìm ra giải pháp giải quyết việc làm phù hợp.
11 Chia theo giới tính: Nam và Nữ. Việc chia theo giới tính nhằm nắm rõ hơn về tỷ lệ nữ và đưa ra các giải pháp giải quyết việc làm cho lực lượng nữ có trên địa bàn một cách thuận lợi và hợp lý nhất. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Nghề Trong quá trình lao động để làm tăng năng suất và hiệu quả lao động đã xuất hiện sự phân công lao động trong xã hội, sự chuyên môn hoá và định hình lâu dài loại hoạt động của con người.
Điều đó dẫn đến sự phát triển da dạng, phong phú của nghề. Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu làm ăn, sinh sống của con người và đáp ứng yêu cẩu phát triển kinh tế - xã hội theo nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng. Những yêu cầu về mặt số lượng, chất lượng của sản phẩm lao động đòi hỏi phải có những kiến thức, kỷ năng, kinh nghiệm, thái độ lao động đã buộc con người muốn hoạt động sản xuất được phải học hỏi và được đào tạo Vậy nghề được hiểu là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề thường được hiểu là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và phát triển cuộc sống cho mỗi người.
Nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống mà còn là con đường để thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân. Đào tạo nghề Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định. Hay nói cách khác là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai. [25] 12 Theo Bộ LĐ – TBXH, đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn hành khoá học hành được một nghề trong xã hội Tại luật giáo dục nghề nghiệp luật số: 74/2014/QH13 trang 1 đã đưa ra rõ khái niệm sau: Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên.
Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021) đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021- 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó có xác định 3 đột phá chiến lược là đổi mới thể chế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực tại chỗ; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng. Dạy nghề cho lao động nông thôn chính là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng nhân lực tại chỗ ở địa bàn nông thôn. Dạy nghề cho lao động nông thôn là một hoạt động đào tạo với nhiều hình thức khác nhau: đào tạo mới, đào tạo lại để làm tốt những việc đang làm hoặc để chuyển đổi nghề, chuyển đổi việc làm theo hướng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn do yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của sự nghiệp công nghiệp hóa, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình và phát triển bền vững.
Mục tiêu cuối cùng của việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn là có được nhân lực chất lượng cao để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông 13 nghiệp và hàng hóa thủ công, tiểu thủ công và của những ngành nghề mới ở nông thôn. Những thương hiệu về cà phê, hạt điều, vải thiều, cá ba sa, hàng thủ công của đồng bào thiểu số.hiện đang được thế giới quan tâm và ưa chuộng không chỉ bởi là đặc sản đơn thuần, mà còn do hàm lượng trí tuệ trong đó nhờ người dân học tập thường xuyên mà có.