Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về dân số. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về dân số trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Chương 3: Quan điểm và định hướng giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về dân số trên địa bàn tỉnh Lai Châu. 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DÂN SỐ 1.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 1. Dân số Dân cư là những tập hợp những người sống trên một vùng, một lãnh thổ được quy định bởi những mối liên hệ về mặt xã hội cũng như mối quan hệ qua lại về mặt kinh tế [12]. Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng [12]. Nội hàm khái niệm về dân cư không bao gồm số người, cơ cấu theo độ tuổi và giới tính mà nó còn bao gồm cả vấn đề văn hóa, kinh tế, sức khỏe, ngôn ngữ, phong tục, tập quán.
Quy mô, cơ cấu dân số trên một vùng lãnh thổ không ngừng biến động do có người sinh ra, có người chết đi, có người di cư đến, có người di cư đi, có người kết hôn, có người ly hôn. Do vậy, nói đến vấn đề dân số là nói đến vấn đề quy mô, cơ cấu, chất lượng và các yếu tố biến động như sinh, chết, đến, đi. Quy mô dân số là số lượng người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định [12]. Những thông tin về quy mô dân số là hết sức cần thiết trong phân tích, so sánh với các chỉ tiêu phát triển KT-XH nhằm lý giải những nguyên nhân của tình hình và hoạch định các chiến lược phát triển.
Để nắm được đầy đủ quy mô dân số thông thường sử dụng các phương pháp như điều tra biến động dân số hàng năm, Tổng điều tra dân số và nhà ở 10 năm/lần và ghi chép định kỳ vào sổ dân số (sổ A0). Phân bố dân số (hay còn gọi là phân bố dân cư) là sự phân chia dân số theo khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc đơn vị hành chính [12]. 13 Để đánh giá việc phân bố dân số chỉ tiêu đầu tiên để xem xét và đánh giá là mật độ dân số. Mật độ dân số là tổng số dân trung bình sinh sống trên một đơn vị diện tích vùng, lãnh thổ nhất định, là số nhân khẩu bình quân trên một km2 diện tích nhằm phản ánh tình hình phân bổ dân cư của địa phương đó trong một thời gian nhất định.
Cơ cấu dân số, được tính theo tỷ lệ giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng có liên quan [12]. Có thể hiểu, cơ cấu dân số là sự phân chia tổng dân số của một vùng thành các nhóm theo một hoặc nhiều tiêu thức. Qua đó có thể tiến hành các nghiên cứu theo các đặc trưng dân số học như theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân. Chất lượng dân số, phản ánh các đặc trưng về trí tuệ, tinh thần và thể chất của toàn bộ dân số trên một vùng, lãnh thổ.
Các đặc trưng để phản ánh chất lượng dân số: - Về trí tuệ: gồm trình độ văn hóa, trình độ khoa học kỹ thuật, tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ người có bằng cấp, được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật, thẩm mỹ, - Về tinh thần: thái độ cần cù yêu lao động và lao động có kỷ luật, có tổ chức, tính gắn bó cộng đồng, tính sáng tạo… thể hiện qua mức độ tiếp cận và tham gia các hoạt động văn hóa, thông tin, vui chơi, giải trí, các phong trào xã hội. - Về thể lực: gồm chỉ số về chiều cao, cân nặng, sự khéo léo, tốc độ, sức bền, sức mạnh, dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi thọ. Quản lý nhà nước về dân số Quản lý nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước là việc thực hiện quyền lực của Chính phủ và các cơ quan nhà nước, nhằm duy trì và thiết lập trật tự xã hội ổn định, đồng thời thúc đẩy sự phát triển toàn diện của xã hội theo các mục tiêu đã đề ra. Chính xác, quản lý nhà nước là quá trình điều chỉnh và quản lý các quan hệ trong xã hội dựa trên quyền lực của nhà nước.
Các cơ quan trong bộ 14 máy nhà nước được giao trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước, bao gồm chức năng đối nội và đối ngoại. Đồng thời, quyền lực cưỡng chế của Nhà nước được đảm bảo để thực hiện nhiệm vụ quản lý này. Quản lý nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành và giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nước, nhằm đảm bảo sự vận hành hiệu quả và ổn định của quốc gia. Nó bao gồm nhiều khía cạnh, bao gồm lập pháp, hành pháp, tư pháp và các hoạt động quản lý hành chính.
Trong khía cạnh hẹp hơn, quản lý nhà nước đề cập đến việc hướng dẫn pháp lý, điều hành và quản lý hành chính. Các cơ quan hành pháp có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ này bằng cách sử dụng quyền lực cưỡng chế của nhà nước để thực thi và áp dụng luật pháp, giám sát tuân thủ và xử lý vi phạm. Quản lý nhà nước về dân số Quản lý nhà nước về dân số là quá trình tổng thể của các phương thức, biện pháp và cách thức mà nhà nước sử dụng để tác động và điều chỉnh dân số, nhằm đạt được các mục tiêu chung của quốc gia. Quá trình này bao gồm việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, chiến lược, chương trình và kế hoạch liên quan đến dân số.
Nó cũng bao gồm việc xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy, thiết lập cơ chế quản lý và điều hành, nhằm đảm bảo rằng các chủ trương và chính sách được thực hiện và có tác động đến người dân, biến chúng thành hiện thực trong cuộc sống hàng ngày [22]. Chủ thể trực tiếp quản lý nhà nước về dân số ở Việt nam đã trải qua rất nhiều giai đoạn: Ủy ban Quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình (1991- 2001); Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (2002-2007); Bộ Y tế (từ năm 2007 đến nay). Tại địa phương là UBND các tỉnh, thành phố, cơ quan trực tiếp tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố quản lý nhà nước về dân số là Sở Y tế. Đối tượng quản lý nhà nước về dân số là tất cả công dân, tổ chức toàn xã hội thuộc phạm vi quản lý của chủ thể.
Mọi công dân có trách nhiệm thực 15 hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định, hướng dẫn của Bộ Y tế, UBND các cấp trong công tác dân số trên địa bàn, vùng lãnh thổ đó. Mục tiêu của quản lý nhà nước về dân số xét một cách chung nhất là trạng thái thay đổi về các yếu tố quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số hoặc các quá trình sinh, chết, di dân phù hợp với mong muốn của nhà nước đạt được để tạo điều kiện nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước về kinh tế, môi trường và xã hội thì hiện nay chủ thể quản lý nhà nước về dân số là Bộ Y tế, Sở Y tế các tỉnh, thành phố có chức năng tham mưu cho Chính phủ, cho UBND tỉnh, thành phố về bộ máy tổ chức quản lý, đề ra mục tiêu, kế hoạch, chương trình và phương thức hoạt động, cách thức tổ chức quản lý, các chương trình, chế độ quản lý. Trong phạm vi của một tỉnh, đối tượng quản lý nhà nước là toàn bộ công dân thuộc phạm vi của tỉnh đó. UBND chỉ đạo các sở, ban ngành đoàn thể, UBND cấp huyện, Trung tâm Y tế (TTYT) các ban ngành đoàn thể phối hợp triển khai thực hiện công tác dân số.
Quá trình quản lý nhà nước về dân số sẽ đi từ việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện chương trình, đề án và các biện pháp thực hiện, đưa chủ trương của đảng chính sách pháp luật của nhà nước về công tác dân số đến tận người dân. Làm tốt công tác quản lý nhà nước về dân số nhằm đảm bảo ổn định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bổ dân số hợp lý và nâng cao chất lượng dân số, nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của mỗi người dân, từng gia đình và toàn xã hội, đồng thời phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển KT-XH của từng vùng, từng địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đời sống của người dân được ấm no, hạnh phúc. Trong quản lý nhà nước về dân số, các quan hệ đóng vai trò quan trọng và thể hiện mối liên hệ xã hội và kinh tế giữa con người và con người trong quá trình thực hiện các hoạt động dân số. Các quan hệ này bao gồm: 16 Quan hệ giữa hệ thống cơ quan dân số cấp trên và hệ thống cơ quan dân số cấp dưới: Đây là quan hệ giữa các cơ quan và tổ chức chịu trách nhiệm quản lý dân số ở cấp trên và cấp dưới.
Các cơ quan cấp trên định hướng, chỉ đạo và hỗ trợ cơ quan cấp dưới trong việc thực hiện các chương trình và chính sách dân số. Quan hệ giữa người lãnh đạo và người thực hiện: Đây là quan hệ giữa những người đứng đầu các cơ quan dân số và những người thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong lĩnh vực dân số. Những người lãnh đạo đưa ra chỉ đạo, hướng dẫn, và đảm bảo việc thực hiện đúng các chính sách và quy định dân số. Quan hệ giữa cơ quan thường trực và cơ quan thành viên Ban chỉ đạo công tác dân số các cấp: Đây là quan hệ giữa cơ quan có trách nhiệm thường trực và cơ quan thành viên của Ban chỉ đạo công tác dân số ở các cấp.
Cơ quan thường trực đảm nhận vai trò chỉ đạo, hỗ trợ và giám sát hoạt động dân số, trong khi cơ quan thành viên thực hiện các nhiệm vụ cụ thể theo định hướng của cơ quan thường trực. Quan hệ giữa cơ quan thường trực và cơ quan chính quyền các cấp: Đây là quan hệ giữa cơ quan có trách nhiệm thường trực và cơ quan chính quyền ở các cấp. Cơ quan thường trực hỗ trợ và tương tác với cơ quan chính quyền trong việc thực hiện các chính sách và chương trình dân số.