mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nƣớc về công 1 nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn cấp huyện/thị xã. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thị xã An Nhơn. 1 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG NGHIỆP, TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN/THỊ XÃ 1.
Khái quát quản lý nhà nƣớc về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 1. Khái niệm, vị trí, vai trò của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 1. Khái niệm công nghiệp Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa (có thể là phi vật chất) mà sản phẩm được “chế biến, chế tạo, chế tác, chế phẩm” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động sản xuất kinh tế có quy mô lớn, được hỗ trợ thúc đẩy bỡi sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Theo Từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Văn Đạm: Công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) “là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lƣợng, chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, hoặc thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm” [12]. Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa". Theo nghĩa này, những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt đƣợc một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế nhƣ: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v. So với nông nghiệp và dịch vụ, công nghiệp có những đặc điểm khác biệt: - Khác với nông nghiệp, công nghiệp sử dụng nhiều phƣơng pháp khác nhau, chủ yếu là cơ học, vật lý, hóa học hoặc quá trình sinh học làm thay đổi toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu đầu vào để tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu hằng ngày của con ngƣời hoặc các ngành công nghiệp 1 khác.
Nông nghiệp, trái lại, sử dụng các phƣơng pháp tác động vào cây trồng, vật nuôi để nâng cao năng suất, nâng cao sức chống chịu, rút ngắn chu kỳ sản xuất. Công nghiệp phụ thuộc nhiều vào tiến bộ khoa học, ít bị ảnh hƣởng của khí hậu, thời tiết, đất đai so với nông nghiệp. Công nghiệp có tƣ liệu sản xuất và lực lƣợng sản xuất cao hơn so với nông nghiệp. Tuy nhiên, ngày nay nông nghiệp càng ngày càng phát triển và ứng dụng công nghệ khoa học cao.
- Khác với dịch vụ, sản phẩm của công nghiệp chủ yếu là các sản phẩm có hình dạng và giá trị sử dụng nhất định. - Đầu vào cho sản xuất công nghiệp có khối lƣợng nguyên liệu lớn sử dụng từ các ngành khác nhƣ nông nghiệp, khai khoáng…Do công nghiệp tiêu thụ một lƣợng lớn năng lƣợng, các phụ phẩm và tồn dƣ trong quá trình sản xuất lớn nên công nghiệp thƣờng ảnh hƣởng đến tài nguyên và môi trƣờng. Khi phát triển không kiểm soát sẽ làm tổn hại đến môi trƣờng, đời sống của nhân dân. - Công nghiệp sử dụng nhiều vốn do đầu tƣ ban đầu lớn cho thiết bị máy móc, nhà xƣởng, nguyên liệu đầu vào.
Khái niệm tiểu thủ công nghiệp Tiểu thủ công nghiệp là một bộ phận của ngành công nghiệp mà sản phẩm làm ra chủ yếu bằng quy trình thủ công với quy mô nhỏ. Ở đó, hệ thống công cụ lao động thô sơ đã được cải tiến và thay thế bằng một phần máy móc mang tính chất công nghiệp có quy mô nhỏ (bao gồm các hộ, cơ sở sản xuất mang tính chất công nghiệp quy mô nhỏ, trang bị máy móc hoặc thủ công). Theo các nhà Kinh tế học Liên Xô cũ thì: “Thủ công nghiệp là sản xuất thủ công sử dụng lao động thô sơ chế biến nguyên liệu thành sản phẩm”. Vào thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, thuật ngữ Tiểu công nghiệp và Thủ công nghiệp dùng để chỉ các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh.
Một số nƣớc khác không dùng thuật ngữ “Thủ công nghiệp” mà dùng thuật ngữ “Tiểu công nghiệp”. Trong văn phong kinh tế của Anh, ngƣời ta dùng “petty industry” để chỉ sản xuất Tiểu công nghiệp có quy mô nhỏ, không dùng 1 máy móc, lao động thủ công dƣới 4 ngƣời. Tại Ấn Độ, năm 1960 ngƣời ta quy định các cơ sở sản xuất nhỏ hơn 100 ngƣời, không dùng máy móc hoặc cơ sở sản xuất nhỏ hơn 50 ngƣời có dùng máy móc đều thuộc Tiểu công nghiệp. Tuy nhiên sau đó thuật ngữ này đƣợc thay thế bằng quy định khác nhƣ: Vốn đầu tƣ không quá 500.000 rupi (Tƣơng đƣơng 100.000 USD) đều thuộc Tiểu công nghiệp.
Một số nƣớc nhƣ Hàn Quốc, Philippin, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapo, Mỹ… đều lấy chỉ tiêu về vốn, số lƣợng công nhân (vốn nhỏ hơn 100.000 USD, số lƣợng công nhân nhỏ hơn 300 ngƣời) để xác định thuộc Tiểu công nghiệp. Các chuyên gia về Tiểu công nghiệp trong Uỷ ban kinh tế Châu Á ở Viễn Đông (The Economic Commission for ASie and the for EastEcafe) (năm 1962) đã định nghĩa: “Tiểu kỹ nghệ là các xí nghiệp kỹ nghệ sử dụng không quá 50 công nhân, trƣờng hợp xƣởng cơ khí không có máy móc hoặc không quá 20 công nhân, trong trƣờng hợp xƣởng cơ khí sử dụng máy móc ứng với một công suất dƣới 50 mã lực”. Tại Việt Nam thuật ngữ “Tiểu công nghiệp -Thủ công nghiệp” lần đầu tiên đƣợc nhắc đến trong Văn kiện của Đảng Lao Động Việt Nam năm 1951. Dần dần, thuật ngữ này đƣợc sử dụng quen thuộc và trong mọi văn bản đều chỉ dùng là Thủ công nghiệp song thuật ngữ này luôn bao hàm cả Tiểu công nghiệp.
Tiểu thủ công nghiệp là thuật ngữ dùng chỉ các cơ sở sản xuất và hoạt động sản xuất ngoài quốc doanh, lấy sản xuất bằng tay là chủ yếu [11]. Ở nông thôn, tiểu thủ công nghiệp gắn liền với thời gian nông nhàn nhƣng thu nhập lại cao hơn so với sản xuất nông nghiệp nên nhiều hộ gia đình đã rời hẳn nông nghiệp chuyển sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Do đó, ở nông thôn tiểu thủ công nghiệp thƣờng phát triển mạnh gắn liền với các làng nghề truyền thống. Sở hữu tƣ liệu sản xuất của tiểu thủ công nghiệp đa dạng, đƣợc thể hiện ở chỗ: không những các thành phần kinh tế đều tham gia tìm kiếm lợi nhuận trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp mà còn là tính chất pha tạp sở hữu trong tiểu thủ 1 công nghiệp, trong đó sở hữu tƣ nhân, cá thể trong lĩnh vực này đang ngày càng chiếm ƣu thế.
Ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp đa dạng, phong phú, sản xuất có tính tập trung cao. Ở các vùng nông thôn có thể sử dụng lao động dƣ thừa lúc nông nhàn và tận dụng các nguyên liệu do sản xuất chính tạo ra hoặc sử dụng tài nguyên của địa phƣơng. Khác với ở nông thôn, ở đô thị có điều kiện tập trung sản xuất cao hơn, quy mô lớn hơn và tính chuyên môn hóa cao hơn. Đây cũng là thị trƣờng rộng lớn để trao đổi và tiêu thụ sản phẩm và đó cũng là điều kiện khách quan thúc đẩy sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển.
Khái niệm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là một ngành kinh tế phi nông nghiệp, bao gồm: - Nghề thủ công - Thủ công mỹ nghệ - Thủ công nghiệp - Nghề thủ công truyền thống - Ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp. Đây là những ngành sản xuất hàng hóa có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vị trí đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau: - Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là một bộ phận hợp thành cơ cấu: công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, do những đặc điểm vốn có của nó. Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó. - Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời.
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, CN - TTCN không những chỉ là ngành khai thác tài nguyên, mà còn tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu nguyên thủy đƣợc khai thác và sản xuất từ các loại tài nguyên, khoáng sản, động thực vật thành các sản phẩm trung gian để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho con ngƣời. - Sự phát triển của CN-TTCN là một yếu tố có tính chất quyết định để thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong 1 quá trình phát triển nền kinh tế lên nền sản xuất lớn, tùy theo trình độ phát triển của CN-TTCN và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, xuất phát từ những điều kiện đặc điểm cụ thể của mỗi nƣớc, mỗi thời kỳ cần phải xác định đúng đắn vị trí của CN - TTCN trong nền kinh tế quốc dân hình thành phƣơng án cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ và định hƣớng từ chuyển dịch cơ cấu đó một cách có hiệu quả. Đó là một nhiệm vụ quan trọng của việc tổ chức nền kinh tế, nhằm đạt đƣợc những mục tiêu chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
Vị trí, vai trò của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (1) Vị trí của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: - Khu vực CN-TTCN là một bộ phận hợp thành cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ do những đặc điểm vốn có của nó. Trong quá trình phát triển nền kinh tế từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó. - Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời.