Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy. Thực trạng quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội. Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác cai nghiện ma túy của thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CAI NGHIỆN MA TÚY 1. Ma túy, nghiện ma túy, người nghiện ma túy và tệ nạn ma túy * Ma túy Thuật ngữ “ma túy” xuất hiện ở Việt Nam ban đầu gắn với một sản phẩm dân gian là thuốc phiện, về sau còn được dùng để chỉ các sản phẩm có được từ cây cần sa, cô ca và các loại thuốc tân dược gây nghiện khác. Sở dĩ gọi là "ma túy" vì các chất này có tác dụng như ma thuật, ma quái, nó làm tăng hưng phấn hoặc ức chế thần kinh, làm cho con người mê mẩn, ngây ngất không tỉnh táo. Với cách hiểu này, thuật ngữ “ma túy” được ghép từ các từ ma thuật, ma quái và túy lúy.
Trong tiềm thức của người Việt Nam, “ma túy” đồng nghĩa với sự xấu xa, tội lỗi cần phải ngăn chặn, loại bỏ khỏi đời sống cộng đồng. Trong Từ điển Wikipedia, ma túy là tên gọi chung chỉ những chất kích thích khi dùng một lần có thể gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo. Những chất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và sinh lý. Trong lĩnh vực khoa học, ma túy được hiểu là các chất có nguồn gốc tự nhiên (morphin.); bán tổng hợp (heroin được bán tổng hợp từ morphin) hay tổng hợp (amphetamine) có tác dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu., khi dùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nếu không sẽ rất khó chịu.
Chương trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNDCP) năm 1991 đã xác định: “ma túy là những chất độc có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người thì có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng”. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), "Ma túy là bất k chất gì mà khi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể" [25]. Như vậy, mỗi lĩnh vực, mỗi chủ thể khác nhau đều đưa ra quan điểm về khái niệm ma túy để phục vụ cho hoạt động chuyên môn của tổ chức hay 11 ngành khoa học. Việc nghiên cứu khái niệm ma túy ở đây là để phục vụ cho quản lý công tác PCTNMT.
* Nghiện ma túy Trong nhiều thế kỷ qua, các nghiên cứu về nghiện ma túy vẫn bị ảnh hưởng bởi những quan điểm thần bí về nghiện ma túy và sự k thị đối với người nghiện ma túy. Quan niệm này hình thành những phản ứng tiêu cực của xã hội đối với người nghiện ma túy và đối xử với vấn đề này như một sai lầm về đạo đức hơn là về vấn đề sức khỏe [24]. Hiện nay, quan điểm đối với vấn đề lạm dụng, nghiện ma túy đã thay đổi sâu sắc từ đó có cách tiếp cận hiệu quả hơn trong các giải pháp đối với vấn đề này. Sử dụng ma túy, lạm dụng am túy thường dẫn đến nghiện ma túy.
Trong nhiều tài liệu quốc tế, nghiện ma túy được giải thích là việc sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần một hay nhiều chất ma túy tới mức người sử dụng bị ngộ độc từng thời k hay ngộ độc mãn tính, có biểu hiện muốn khao khát không thể cưỡng lại được và tìm mọi cách để có được ma túy và sử dụng. Quan niệm này chỉ ra việc khi đã nghiện ma túy, người nghiện rất khó từ bỏ việc sử dụng ma túy. Dưới góc độ y học, nghiện ma túy được xem là một loại bệnh gây nhiễm độc chu k hoặc mãn tính làm rối loạn nhiều bộ phận, cơ quan chức năng của cơ thể. Trên cơ sở những nghiên cứu khoa học về nghiện ma túy, Viện nghiên cứu quốc gia Mỹ về lạm dụng ma túy đưa ra quan điểm, nghiện ma túy là một loại bệnh mãn tính, tái phát của não được đánh dấu bằng việc phải ép buộc tìm và sử dụng ma túy, bất chấp những hậu quả tác hại nghiêm trọng [24, tr.
Như vậy, nghiện ma túy được xem là một loại bệnh về não vì chất ma túy có thể thay đổi não, thay đổi cấu trúc và cách não hoạt động. Những thay đổi này ở não kéo dài là nguyên nhân của những hành vi nguy hiểm thường thấy ở người nghiện ma túy. Theo quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì nghiện ma túy đồng nghĩa với “lệ thuộc vào ma túy” [25]. Lệ thuộc vào ma túy là bị ràng buộc, bị chi phối, bị ép buộc sử dụng ma túy đến mất chủ động, mất tự do.
Theo quan điểm này, người nghiện ma túy sẽ bị rối loạn toàn bộ cơ thể, kể cả về sinh lý, tâm lý nhận thức và hành vi; nếu họ ngừng sử dụng ma túy sẽ xuất hiện hội chứng cai. 12 Từ những quan điểm nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về nghiện ma túy như sau: Nghiện ma túy là một loại bệnh mãn tính của não khiến người sử dụng chất ma túy bị lệ thuộc vào các chất này, khi bị lệ thuộc thì rất khó từ bỏ ma túy và gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với thể chất và tinh thần của người nghiện ma túy. * Người nghiện ma túy Khoản 11, Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2008 quy định: Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này [39]. Người nghiện ma túy là người tự mình hoặc nhờ người khác đưa ma túy vào cơ thể theo bốn đường: đường tiêu hóa, đường hô hấp, đường máu - tuần hoàn và đường thẩm thấu qua da, niêm mạc.
Theo Điều 2, Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định: Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này. *Tệ nạn ma túy Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Trong cuộc sống, thuật ngữ tệ nạn được mọi người hiểu đó là những thói quen, hành vi xấu không phù hợp với thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội, pháp luật, ảnh hưởng đến một vấn đề nào đó của con người, của xã hội, do vậy thường bị xã hội lên án và xa lánh. Theo quy định tại khoản 8, Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy 2008: TNMT là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy [39].
Với quy định này của Luật phòng, chống ma túy, TNMT phản ánh tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy. Theo Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021: Tệ nạn ma túy là việc sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy và các hành vi vi phạm pháp luật về ma túy mà chưa đến mức hoặc không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Công tác phòng, chống tệ nạn ma túy Hiện nay, các tài liệu nêu nhiều khái niệm khác nhau có liên quan đến công tác phòng, chống ma túy như: Phòng chống tệ nạn ma túy; phòng chống lạm dụng ma túy; kiểm soát ma túy… Luật Phòng, chống ma túy quy định: “Phòng, chống ma túy là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống TNMT và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy”. Trong đó TNMT bao gồm tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy (khoản 8 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2008) [40].
Như vậy, nếu tiếp cận theo hướng này, có thể hiểu PCTNMT là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống TNMT. Nội dung công tác PCTNMT bao gồm phòng ngừa lạm dụng, nghiện ma túy, điều trị cai nghiện và phòng chống tái nghiện. Phòng ngừa TNMT là việc các cơ quan của Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân bằng nhiều biện pháp nhằm khắc phục những nguyên nhân, điều kiện của TNMT, từ đó ngăn chặn, hạn chế và làm giảm từng bước, tiến tới loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài cách tiếp cận trên, còn có cách tiếp cận khác về phòng chống ma túy, đó là chia vấn đề của công tác phòng, chống ma túy thành các vấn đề cần được giải quyết.
Nhiều nước trên thế giới và Việt Nam đã đưa ra 3 vấn đề lớn cần được giải quyết trong công tác PCTNMT đó là: giảm cung, giảm cầu và giảm tác hại. Giải quyết 3 vấn đề lớn này trong công tác PCTNMT phải luôn gắn bó chặt chẽ với nhau vì chúng có quan hệ ràng buộc không thể tách rời và tác động qua lại lẫn nhau. Điều 4 Luật Phòng, chống ma túy xác định rõ, phòng chống ma túy là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và của toàn xã hội; đồng thời Chương 5 của luật này đã phân công thực hiện chức năng quản lý công tác PCTNMT cho các chủ thể. Mỗi chủ thể, theo quy định của pháp luật, có trách nhiệm quản lý công tác PCTNMT ở những nội dung, mảng công việc nhất định trong tổng thể công tác PCTNMT.
Gắn với phạm vi về đối tượng nghiên cứu của luận văn có thể thấy, nội dung chính của PCTNMT bao gồm: - Phòng ngừa nghiện ma túy: Việc phòng ngừa không chỉ là yếu tố quan trọng của công tác PCTNMT hay công tác giảm cầu, mà còn là yếu tố cốt lõi 14 để giải quyết triệt để TNMT trong cộng đồng. Phòng ngừa nghiện ma túy là những hành động tích cực, có chủ đích nhằm ngăn ngừa việc sử dụng ma túy. - Phát hiện người nghiện ma túy: Người nghiện ma túy có thể làm bất cứ điều gì để có ma túy và sử dụng ma túy kể cả những hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật. Do đó nhiều người nghiện ma túy trong cộng đồng sẽ tiềm ẩn nguy cơ mất trật tự an toàn xã hội.