mở đầu là Đại hội VI đến Đại hội XII đều nhất quán chủ trương thực hiện BHYT toàn dân, trong đó, Đại hội XI (2011) chủ trương: “Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế…; có lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân”. Gần đây, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị một lần nữa nêu rõ: “…Có chính sách khuyến khích người tham gia BHYTTN thường xuyên dài hạn, hạn chế tình trạng người bị ốm đau mới mua bảo hiểm y tế…”. Trên cơ sở chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn 17 bản tổ chức thực hiện BHYT toàn dân nói chung, BHYTTN nói riêng. Theo đó, trước khi thực hiện Luật BHYT (01/7/2009), đối tượng BHYTTN khá rộng, bao gồm cả học sinh, sinh viên; mức đóng đầu tiên là mức tiền cụ thể, sau đó được tính theo tỷ lệ % trên tiền lương cơ sở do Chính phủ quy định.
Phát triển BHYTTN là quá trình mở rộng đối tượng tham gia trên cơ sở ngày càng phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm cân đối thu - chi quỹ BHYTTN. Quá trình đó phát triển như thế nào, theo hướng nào phần lớn đều do chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước quy định. Nói cách khác, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là nhân tố quyết định sự phát triển BHYTTN, thể hiện cụ thể ở các mặt sau: Một là, Nhà nước quy định mức phí tham gia phù hợp hoặc thấp hơn một cách tương đối so với mức chi để khuyến khích mọi người hưởng ứng, nhằm mục đích mở rộng độ bao phủ của BHYTTN, tăng số lượng người tham gia BHYTTN và gia tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYTTN. Nếu Nhà nước quy định mức phí cao, vượt quá khả năng thu nhập thì người dân sẽ khó tham gia.
Đấy là chưa kể việc quy định phân đoạn mức phí phải nộp như thế nào, một lần hay nhiều lần để tạo điều kiện tối đa cho người dân được tham gia. Hai là, Nhà nước quy định mạng lưới cung ứng dịch vụ BHYTTN thông qua việc phát triển hệ thống đại lý thu BHYTTN, đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở khám chữa bệnh, gia tăng số lượng giường bệnh và đội ngũ cán bộ y tế, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ BHYTTN. Trong một giai đoạn nào đó, việc quy định hệ thống đại lý thu kiểu hành chính, duy nhất là cần thiết nhưng về lâu dài trong bối cảnh kinh tế thị trường thì điều đó sẽ cản trở sự phát triển, mở rộng đối tượng tham gia BHYTTN vì không có cạnh tranh, không có thêm các kênh phục vụ việc đăng ký tham gia của người dân. Nếu như nói mở rộng đối tượng là đầu vào thì việc khám chữa bệnh, giải 18 quyết quyền lợi, chế độ chính sách cho người tham gia là đầu ra.
Trong trường hợp Nhà nước ban hành các quy định không cân đối giữa đầu vào với đầu ra, nhất là đầu ra không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh thì sẽ gây tổn hại đến quyền lợi của người tham gia BHYTTN. Ba là, Nhà nước quy định mức chi, quy định các chế độ, chính sách liên quan nhằm đảm bảo nguồn thu, cân đối thu – chi, phát triển vững chắc BHYTTN. Trường hợp mất cân đối, Nhà nước sẽ sử dụng quỹ dự phòng hoặc ngân sách để bù đắp cho quỹ. Chẳng hạn, mặc dù quỹ BHYTTN luôn mất cân đối nhưng để phát triển BHYT nói chung, BHYTTN nói riêng, tại khoản 5 Điều 3 Luật BHYT quy định: “Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ”.
Hơn thế nữa, Luật BHYT cũng chỉ quy định trần mức thu tối đa (hiện nay là 702.000 đồng/người/năm) mà không quy định trần mức hưởng tối đa về quyền lợi (trong năm hoặc đợt điều trị), dẫn đến nhiều người được quỹ BHYT thanh toán hằng trăm triệu trong mỗi đợt điều trị hoặc mỗi năm hơn cả tỷ đồng. Như vậy, có thể nói nhân tố chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là vô cùng quan trọng. Tùy tình hình trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nước có những quy định cụ thể, nhằm điều chỉnh, tạo thuận lợi cho phát triển BHYTTN. Tổ chức bộ máy cung ứng dịch vụ bảo hiểm y tế tự nguyện Nhân tố này cũng không thể thiếu đối với bất kỳ chính sách nào khi triển khai thực hiện.
Tổ chức bộ máy cung ứng dịch vụ BHYTTN thuộc hai ngành là BHXH và Y tế, có chức năng, nhiệm vụ cung ứng dịch vụ BHYTTN từ khai thác, lập danh sách, thu tiền, in ấn, cấp phát thẻ BHYT đến phục vụ khám chữa bệnh cho đối tượng khi phát sinh. Tổ chức bộ máy cung ứng dịch vụ BHYTTN có vai trò rất quan trọng, bởi lẽ, đó là nơi tổ chức thực hiện 19 chính sách BHYTTN; Chính sách BHYTTN có phát triển hay không, có đảm bảo quyền lợi cho người tham gia hay không… đều phụ thuộc vào bộ máy tổ chức thực hiện. Nếu bộ máy tổ chức thực hiện tốt, quản lý hiệu quả, thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của thực tế thì sẽ tăng trưởng ổn định lâu dài và đi vào cuộc sống. Ngược lại, nếu bộ máy tổ chức thực hiện không tốt, quản lý kém hiệu quả, thụ động thì bộ máy đó sẽ là rào cản với sự phát triển của BHYTTN.
Tổ chức bộ máy cung ứng dịch vụ BHYTTN về cơ bản bao gồm hệ thống đại lý thu, hệ thống cơ sở khám chữa bệnh. Đối với hệ thống đại lý thu BHYTTN: Theo quy định tại Điều 2 Quyết định số 999/QĐ-BHXH ngày 01/10/2014 của BHXH Việt Nam: “đại lý thu là tổ chức được cơ quan Bảo hiểm xã hội ký Hợp đồng đại lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, gồm: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; đơn vị sự nghiệp; tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức kinh tế”. Như vậy, hệ thống đại lý thu BHYT được xem là chân rết đầu vào của bộ máy cung ứng dịch vụ BHYT, là cánh tay nối dài của cơ quan BHXH. Hệ thống đại lý thu phát triển theo chiều rộng có nghĩa là ngày càng có nhiều đại lý thu hơn, tạo thế cạnh tranh giữa các đại lý theo cơ chế thị trường và người tham gia cũng có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với chính sách BHYTTN.
Nếu phát triển theo chiều sâu thì số lượng đại lý có thể không tăng nhưng chất lượng phục vụ được nâng cao, chuyên sâu và chuyên nghiệp hơn. Vai trò của hệ thống đại lý thu thể hiện ở việc, nếu không có nó thì cơ quan BHXH khó có thể tổ chức thực hiện chính sách BHYTTN (từ việc lập danh sách, thu tiền, hướng dẫn, cấp phát thẻ BHYTTN. Bên cạnh đó, hệ thống đại lý thu còn là cầu nối giữa cơ quan quản lý (cơ quan BHXH) với người tham gia, thường xuyên tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về BHYTTN; tiếp xúc với người tham gia, tiếp thu những phản ánh, kiến nghị từ người tham gia để tổng 20 hợp, báo cáo với cơ quan thẩm quyền. Sự phát triển hệ thống đại lý là điều kiện cần thiết để phát triển, mở rộng đối tượng tham gia BHYTTN.
Đối với hệ thống cơ sở khám chữa bệnh và số lượng giường bệnh: Phát triển hệ thống cơ sở khám chữa bệnh thường kéo theo phát triển số lượng giường bệnh, tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp số lượng cơ sở khám chữa bệnh không tăng nhưng số lượng giường bệnh vẫn tăng do các cơ sở khám chữa bệnh đầu tư mở rộng thêm hoặc bổ sung thêm giường bệnh. Bất luận trên phương diện nào, sự phát triển đó cũng sẽ là gia tăng cung ứng dịch vụ đầu ra, tạo điều kiện phục vụ cho nhiều người có nhu cầu khám chữa bệnh BHYTTN hơn. Chẳng hạn, với tình trạng quá tải do dịch bệnh, sự phát triển của các cơ sở khám chữa bệnh không đáp ứng được yêu cầu dẫn đến 2, 3 bệnh nhân phải nằm một giường (cá biệt có những cơ sở khám chữa bệnh 5, 7 bệnh nhân nằm một giường bệnh, thậm chí bệnh nhân phải nằm cả ngoài hành lang, trên lối đi…). Thì việc xây dựng thêm các cơ sở khám chữa bệnh hoặc bổ sung thêm giường bệnh ở các cơ sở khám chữa bệnh có sẵn sẽ giúp giải tỏa vấn đề quá tải.
Hơn nữa, việc phát triển cơ sở khám chữa bệnh sẽ tạo thế cạnh tranh giữa các cơ sở khám chữa bệnh, bắt buộc các cơ sở khám chữa bệnh phải thường xuyên nâng cao chất lượng phục vụ mới hy vọng “giữ chân” bệnh nhân BHYT nói chung, bệnh nhân BHYTTN nói riêng. Điều đó cũng có nghĩa, việc phát triển hệ thống cơ sở khám chữa bệnh và số lượng giường bệnh là nhân tố góp phần làm cho chính sách BHYTTN được thực thi mà nếu không có nó thì việc phát triển, mở rộng đối tượng tham gia và cả chính sách ấy sẽ trở thành vô nghĩa. Đối với đội ngũ cán bộ y tế: Cũng giống như phát triển hệ thống cơ sở khám chữa bệnh và số lượng giường bệnh, việc phát triển đội ngũ cán bộ y tế cũng là nhân tố làm gia tăng cung ứng dịch vụ đầu ra, tạo điều kiện cho người bệnh khám chữa bệnh BHYTTN được chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Ví dụ, 21 trong điều kiện cán bộ y tế nói chung, y bác sỹ nói riêng không đủ số lượng thì thời gian khám chữa bệnh cho người bệnh sẽ hạn chế, việc chẩn đoán, điều trị sẽ không bảo đảm.
Điều đó dẫn đến hệ quả là chất lượng khám chữa bệnh thấp, không đáp ứng được nhu cầu của người bệnh, và đương nhiên, họ sẽ từ bỏ BHYTTN để tìm tới các kênh dịch vụ y tế khác phù hợp hơn. Tóm lại, bộ máy cung ứng dịch vụ luôn là điều kiện cần thiết để tổ chức thực hiện chính sách BHYTTN. Không có bộ máy sẽ không thể triển khai chính sách BHYTTN. Bộ máy ấy mạnh, hoạt động hiệu quả và phát triển thì BHYTTN phát triển và ngược lại.
Từ cơ cấu tổ chức bộ máy ban đầu, sau một thời gian thực hiện cần đánh giá lại kết quả từng khâu, từng tổ chức, đối tượng cấu thành để kiện toàn, tinh giản, hoàn chỉnh thì mới thúc đẩy nhanh hơn, hiệu quả hơn BHYTTN. Thông tin tuyên truyền về bảo hiểm y tế tự nguyện Với bất kỳ chính sách nào, thông tin tuyên truyền cũng luôn đóng vai trò định hướng, giúp cho người dân từ biết đến hiểu, từ hiểu đến thực hiện và tham gia phát triển thêm chính sách ấy.