Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội bắt buộc Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở tỉnh Quảng Trị Chương 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở tỉnh Quảng Trị.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Tổng quan về bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội - BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Mục tiêu của Bảo hiểm xã hội Mục tiêu của BHXH là để chính sách BHXH thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ BHXH, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân.
Phát triển hệ thống BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách BHXH tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch. Đặc điểm của Bảo hiểm xã hội - Một là, hình thành nguồn quỹ BHXH. Công tác quản lý thu được triển khai và tiến hành tạo ra một quỹ tài chính.
Đó là quỹ BHXH. Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung vào ngân sách Nhà nước. Quỹ BHXH có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp BHXH. Đặc biệt là đảm bảo chi trả các chế độ cho các đối tượng hưởng BHXH và đảm bảo cho hệ thống BHXH hoạt động một cách có hiệu quả.
Chính vì vậy quỹ BHXH được hình thành chủ yếu các nguồn sau: thu tiền đóng BHXH bắt buộc của NLĐ, của người SDLĐ, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ, hỗ trợ của Nhà nước, các nguồn thu hợp pháp khác. Quỹ BHXH tạo ra để đảm bảo khả năng tài chính chi trả các chế độ BHXH. Công tác quản lý thu được tiến hành đều đặn từng tháng, quý và năm đối với tất cả các ngành, các đơn vị có SDLĐ sẽ giúp nhà nước trong việc giảm chi từ ngân sách 6 nhà nước trong việc chi trả chế độ BHXH. Hàng năm, khoản chi này từ ngân sách nhà nước là rất lớn.
Điều này càng khẳng định vai trò của công tác thu đối với nền kinh tế nước nhà. Mặt khác, thu đúng, thu đủ và thu kịp thời đã tạo ra một khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng tới, đây cũng là một trong những nguồn tài chính quan trọng được sử dụng theo quy định của pháp luật, để cung ứng ra nền kinh tế góp phần quan trong đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển của đất nước. - Hai là, thiết lập mối quan hệ bên trong BHXH. Sự nghiệp BHXH bước đầu được pháp luật hoá trong chương XII Bộ luật lao động và được cụ thể hoá bằng điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ.
Điều luật có quy định việc thực hiện các chế độ hưởng BHXH phải dựa trên cơ sở đóng và thời gian đóng BHXH của từng người. Vì vậy, thu BHXH đòi hỏi phải được theo dõi, ghi chép kết quả đóng của từng người trong cơ quan, đơn vị, để làm cơ sở cho việc tính mức hưởng BHXH đúng theo quy định. Đây là những nội dung mang tính nghiệp vụ chuyên sâu đòi hỏi sự chuẩn xác cao, cụ thể từng NLĐ trong từng tháng và liên tục kéo dài trong nhiều năm. Kết quả thu luôn gắn liền với nghiệp vụ chi trả các chế độ BHXH, do đó việc theo dõi, ghi chép kết quả đóng BHXH phải được thực hiện từ đơn vị cơ sở, nơi người chủ sử dụng lao động, NLĐ có trách nhiệm đóng BHXH.
Cơ quan BHXH có nhiệm vụ quản lý thu, đôn đốc thu BHXH, đồng thời trực tiếp thanh quyết toán các chế độ cho NLĐ. Tên đơn vị SDLĐ, tổng số lao động đóng BHXH, tổng quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Danh sách, họ tên, tuổi và mức tiền lương của từng NLĐ thuộc quỹ tiền lương của đơn vị làm căn cứ đóng BHXH. Kết quả đóng BHXH ghi từng tháng theo từng đơn vị đến từng NLĐ.
Trên cơ sở danh sách theo dõi kết quả đóng BHXH nói trên để ghi kết quả đóng BHXH vào sổ theo dõi của từng người tạo thành mối quan hệ ba bên: NLĐ – chủ SDLĐ – cơ quan BHXH. Mối quan hệ này càng trở nên khăng khít khi công tác quản lý thu BHXH tiến hành đều đặn và chính xác. Công tác thu được thực hiện tốt đã góp phần bảo vệ quyền lợi cho NLĐ. 7 - Ba là, luôn đảm bảo tính công bằng trong xã hội.
Một trong các nguyên tắc của BHXH không thể không nhắc tới, đó là nguyên tắc có đóng có hưởng trong BHXH. Cụ thể của nguyên tắc này là: có đóng vào nguồn quỹ BHXH thì có hưởng chế độ BHXH. Thực hiện tốt công tác quản lý thu BHXH là để đảm bảo công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ về BHXH. Bên cạnh đó còn góp phần khắc phục các tiêu cực trong giải quyết CĐCS liên quan đến BHXH.
BHXH là chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống An sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội và phát triển kinh tế – xã hội. Việc mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHXH cần có bước đi, lộ trình phù hợp với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Phát triển hệ thống BHXH đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH. BHXH là một Quỹ tài chính, vì vậy cần phải tuân theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa các thành viên, bảo đảm công bằng và bền vững của hệ thống BHXH.
Vai trò, chức năng của Bảo hiểm xã hôi - Thứ nhất, Thể hiện được vai trò của Nhà nước về xây dựng và đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội. Nhà nước là một yếu tố cấu thành xã hội, đồng thời cũng là chủ thể cơ bản, quan trọng nhất trong quản lý và điều hành sự tồn tại, phát triển xã hội. Đây chính là vai trò, chức năng xã hội, đồng thời cũng là trách nhiệm xã hội của nhà nước, tức điều mà nhà nước phải làm, phải gánh vác, hoặc nhận lấy về mình. Trách nhiệm xã hội của nhà nước do nguồn gốc và bản chất của nó quy định.
Ở Việt Nam, thực hiện các chính sách xã hội là sự cụ thể hoá các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, là việc thực hiện các lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nhằm tác động trực tiếp vào con người, hướng tới mục đích đảm bảo, thoả mãn ngày một tốt hơn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân. Nên một trong những trụ cột chính trong hệ thống ASXH mà Nhà nước tổ chức thực hiện, chế độ BHXH ngày một khẳng định hơn về 8 vài trò, chức năng của mình thông qua chính sách BHXH. BHXH được thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, có nghĩa là người tham gia đóng góp vào quỹ BHXH thì người đó mới được hưởng quyền lợi về BHXH, nguồn quỹ này để trợ giúp những người yếu thế hơn trong xã hội. Một bộ phận lao động khác do gặp phải rủi ro trong cuộc sống như về sức khỏe, về năng lực, về hoàn cảnh gia đình.
có việc làm và thu nhập thấp hơn sẽ nhận được các quyền lợi BHXH để duy trì cuộc sống. - Thứ hai, thực hiện chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống người lao động, trợ giúp NLĐ khi gặp rủi ro: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm. Theo phương thức hình thành nguồn quỹ BHXH, NLĐ khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương vào quỹ BHXH. Quỹ này, nhằm hỗ trợ cho NLĐ khi ốm đau, thai sản, tai nạn và chăm sóc con cái, khi không làm việc để duy trì và ổn định cuộc sống của NLĐ và gia đình họ.
Do vậy, hoạt động BHXH, một mặt, đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng NLĐ đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội thông qua quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ. Mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ nối tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi và nghĩa vụ một cách bền vững. Về người SDLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH cho NLĐ. Nếu theo nhìn nhận ban đầu, việc đóng góp BHXH cho NLĐ có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của DN.
Nhưng thực chất, về lâu dài, tham gia BHXH đã chuyển giao trách nhiệm bảo vệ NLĐ khi gặp rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho chủ SDLĐ giảm bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của DN, yên tâm tổ chức SXKD. Đối với nước ta, nguồn lao động với trình độ chuyên môn cao, NLĐ có mức thu nhập ở mức bình quân chung toàn xã hội là chủ yếu thì biện pháp điều tiết thu nhập mang tính cộng đồng là rất cần thiết. Thực tế cho thấy, nhiều DN hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản, hải sản; da giày; dệt may. sử dụng nhiều lao động, nhất là DN có nhiều lao động nữ đều rất coi trọng chính sách BHXH để bảo vệ và duy trì nguồn lao động của DN mình.
9 Trong hoạt động BHXH, Nhà nước tiến hành xây dựng chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH. Như vậy, Nhà nước giữ vai trò quản lý về BHXH, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không phải chi từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này.