CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Thất nghiệp Thất nghiệp là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển xã hội loài người và ngày nay đã trở thành phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Thất nghiệp được đề cập đến trong các giáo trình kinh tế, trong thống kê kinh tế, và việc đảm bảo có công việc cho mỗi công dân là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong công tác QLNN của mỗi quốc gia.
Theo quan điểm của P.Ăng Ghen, trong quá trình phát triển của xã hội loài người, lao động luôn được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất và lớn nhất của con người.Ăng Ghen đã khẳng định “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người”. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường hiện nay không phải NLĐ nào cũng dễ dàng tìm kiếm việc làm phù hợp với năng lực, chuyên môn của mình. Trong mỗi nền kinh tế, luôn tồn tại một tỷ lệ thất nghiệp nhất định và một trong những nhiệm vụ nặng nề của mọi chính phủ là tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất có thể. Samuelson – một nhà kinh tế học hiện đại đã cho rằng thất nghiệp: “Đó là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất.
Và trong nền kinh tế thị trường, luôn luôn tồn tại một bộ phận NLĐ bị thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phụ Luan van 10 thuộc rất nhiều vào khả năng giải quyết việc làm của Chính phủ và sự đấu tranh của giới thợ đối với giới chủ”. John Maynard Keynes – một nhà kinh tế có nghiên cứu về thất nghiệp khá thành công cho rằng: “Vấn đề thất nghiệp không phải là hiện tượng độc lập của nền kinh tế mà đó là kết quả của các quy luật nhất định để đạt được sự cân bằng của hệ thống kinh tế”. Theo ông nạn thất nghiệp tồn tại dưới dạng bắt buộc mà trong đó “tổng cung về lao động của những NLĐ muốn làm việc với tiền lương danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có”.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành. Tổ chức này cũng quan niệm: Người thất nghiệp là NLĐ không có việc làm, không làm kể cả 1 giờ trong tuần lễ điều tra đang đi tìm việc làm và có điều kiện là họ làm ngay. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”.Bộ Luật Lao động (được sửa đổi năm 2002), ngoài việc quy định về việc làm, người có việc làm, người thiếu việc làm, đã quy định về thất nghiệp và người thất nghiệp như sau: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương tối thiểu. Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, đến 55 tuổi đối với nữ, làm việc theo HĐLĐ, có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác nhau không có việc làm và đang đi tìm việc làm trong tuần lễ điều tra.
Khoản 4, Điều 3 của Luật BHXH năm 2006 của Việt Nam quy định người thất nghiệp là: “Người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ, HĐLV nhưng chưa tìm được việc làm”. Luan van 11 Ảnh hưởng của thất nghiệp: Đối với người lao động: không chỉ mất đi nguồn tài chính mà còn có khả năng mất đi khả năng nâng cao trình độ nghề nghiệp. Đối với nền kinh tế: thất nghiệp làm lãng phí nguồn lực xã hội, làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển. Đối với xã hội: thất nghiệp dễ dẫn đến nhiều tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, dễ phát sinh nạn trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, ma túy… làm cho tình hình chính trị, xã hội trở nên bất ổn.
Bảo hiểm thất nghiệp Theo cách hiểu thông thường: BHTN là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động. Người thất nghiệp sẽ được hưởng một khoản tiền nhất định và những khoản hỗ trợ khác nhằm giúp người thất nghiệp nhanh chóng quay lại thị trường lao động. Theo Luật BHXH 2006 có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 đối với các quy định về BHTN giải thích: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.Theo Luật Việc làm có hiệu lực từ ngày 01/01/2015: BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN. Ta có thể thấy BHTN là một bộ phận của BHXH.
Tuy nhiên BHTN có tính đặc thù riêng, có những hỗ trợ giúp NLĐ nhanh chóng có việc làm và ổn định cuộc sống như: hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm… trên cơ sở mức đóng vào quỹ BHTN, cả BHYT giúp chăm sóc sức khỏe cho người thất nghiệp. Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp Nội hàm của QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử và đặc điểm văn hoá, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. Xét về mặt chức năng, QLNN bao gồm 3 chức năng: chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện, chức năng hành pháp do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm, chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện. QLNN về BHTN là toàn bộ các hoạt động xây dựng, phối hợp, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát chính sách BHTN của các bên tham gia, nhằm bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu của chế độ BHTN.
QLNN về BHTN nhằm thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thất nghiệp, đảm bảo thực hiện thống nhất từ trung ương đến địa phương. Ngành BHXH và Lao động phối hợp thực hiện chế độ BHTN cho người lao động. Ở địa phương là BHXH cấp tỉnh, BHXH cấp huyện, Ngành lao động có Sở Lao động - Thương binh và xã hội và Trung tâm dịch vụ việc làm. Quỹ BHTN, nguồn tài chính để thực hiện chính sách BHTN được hình thành từ 3 nguồn: Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động.
Vai trò của quản lý Nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp Xuất phát từ tác động tiêu cực của thất nghiệp. Thất nghiệp là một vấn đề nan giải đối với mỗi quốc gia, luôn là một trong những vấn đề quan trọng ưu tiên cần giải quyết. Đối với nước ta tình hình thất nghiệp ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt là tình trạng thừa thầy thiếu thợ, tỷ lệ người có bằng đại học, cao đẳng thất nghiệp chiếm tỷ lệ ngày càng cao. Thất nghiệp gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người dân, sự ổn định của xã hội.
Và BHTN đã thể hiện là một trong những giải pháp quan trọng nhất giải quyết thấu đáo tình trạng trên. Đảng và Nhà nước ta thời gian qua đã có sự quan tâm đúng Luan van 13 mức đến BHTN, các chính sách BHTN ngày càng sát với thực tế, hỗ trợ hiệu quả cho người thất nghiệp, giúp họ ổn định cuộc sống. Xuất phát từ đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Xuất phát từ thực tiễn phát triển đất nước, Đảng ta đã đề ra chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN kể từ Đại hội VI năm 1986, nước ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, hiện nay ta đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Diện mạo đất nước có nhiều chuyển biến, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, quy mô nền kinh tế tăng lên, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện.
Đội ngũ các doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường cũng có những mặt trái, như sự khắc nghiệt của thị trường lao động khiến NLĐ bị thất nghiệp. Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ NLĐ bị mất việc làm, việc này đã được thực hiện hiệu quả chủ yếu qua BHTN. Việc QLNN về BHTN đòi hỏi vừa kiểm soát được tính hiệu quả của BHTN, hỗ trợ NLĐ bị mất việc làm, giúp họ ổn định cuộc sống, đảm bảo công bằng xã hội nhưng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Xuất phát từ đòi hỏi nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy đạt được những thành tựu quan trọng về luận lẫn thực tiễn, nhưng sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong những năm qua cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn về phương diện lý Luan van 14 luận, nhận thức và tổ chức thực hiện. Trong đó đặc biệt quan trọng là hoàn thiện công tác tổ chức QLNN. BHTN là chính sách an sinh xã hội quan trọng, do đó hoàn thiện công tác QLNN về BHTN sẽ tạo cơ chế giúp hỗ trợ NLĐ yên tâm lao động, sản xuất, góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.
Xuất phát từ yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới.