CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong phát triển du lịch cấp huyện 1. Du lịch và các khái niệm liên quan đến du lịch Từ lâu, khái niệm “du lịch” đã được các học giả sử dụng rộng rãi trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, mỗi thời kỳ phát triển, khái niệm về du lịch cũng mang những nét đặc trưng khác nhau và được bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn.
Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization - WTO): Du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế phát sinh do sự di chuyển tới các quốc gia hay điểm đến ngoài nơi cư trú thường xuyên của con người với các mục đích cá nhân hoặc do nhu cầu công việc, chuyên môn [7,tr.5] Theo giáo trình Kinh tế -Du lịch (2006), nhà xuất bản Lao động-Xã hội, do GS. Nguyễn Văn Đính và TS. Trần Thị Minh Hòa đồng chủ biên: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu câu về đi lại, lưu trú, ăn uống, giải trí, nghỉ dưỡng…”[9, tr.19] Luật Du lịch 2017 định nghĩa: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Từ các quan niệm về du lịch như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu du lịch theo hai nghĩa cơ bản sau: 7 n - Thứ nhất, du lịch là nói đến sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, thỏa mãn các nhu cầu giải trí; - Thứ hai, du lịch là tổng hợp các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ tiêu thụ một số giá trị kinh tế, văn hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú.
* Một số khái niệm liên quan đến du lịch - Hoạt động du lịch: Theo quy định tại Điều 3 của Luật Du lịch 2017: "Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch". - Khách du lịch: Theo Bộ tài liệu đào tạo du lịch có trách nhiệm của Dự án EU-ESRT (2013), khách du lịch bao gồm: Khách đi nghỉ dưỡng (khách đi thăm thân, đi nghỉ lễ, nghỉ hè…); khách đi công vụ (khách hội họp, du lịch khuyến hưởng, triển lãm và sự kiện; công tác nói chung) [7, tr.7] Tại Điều 3, Luật Du lịch năm 2017: Khách du lịch “là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến.” - Lữ hành: Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch. - Cơ sở lưu trú du lịch: Là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch. Các loại hình cơ sở lưu trú hiện nay bao gồm: Khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch, nhà nghỉ du lịch, homestay, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, bãi cắm trại du lịch.
8 n - Điểm du lịch: Là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch. - Khu du lịch: Là khu vực có ưu thế về tài nguyên du lịch, được qui hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia. - Tài nguyên du lịch: Là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch.
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. - Nguồn nhân lực du lịch: Là lực lượng tham gia vào quá trình phát triển du lịch, bao gồm nhân lực trực tiếp và nhân lực gián tiếp: Nhân lực trực tiếp là những người làm việc trong các cơ quan quản lí nhà nước về du lịch, các đơn vị sự nghiệp du lịch và các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch; nhân lực gián tiếp là bộ phận nhân lực làm việc trong các ngành, các quá trình liên quan đến hoạt động du lịch như văn hóa, hải quan, giao thông, xuất nhập cảnh, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ công cộng, môi trường, bưu chính viễn thông, cộng đồng dân cư… - Sản phẩm du lịch: Theo bộ tài liệu đào tạo du lịch có trách nhiệm của Dự án EU-ESRT (2013), sản phẩm du lịch được hiểu theo 2 nghĩa: Nghĩa hẹp, là những gì mà du khách mua; theo nghĩa rộng, là toàn bộ những hoạt động của du khách tại điểm đến và những dịch vụ đã sử dụng.4] Theo Điều 3 của Luật Du lịch 2017, sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Phát triển du lịch bền vững: là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu kinh tế, xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ 9 n thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng về nhu cầu du lịch trong tương lai”. * Một số loại hình du lịch phổ biến Theo Luật Du lịch năm 2017: - Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại. - Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường.
- Du lịch cộng đồng: Là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lí, tổ chức khai thác và hưởng lợi. Ngoài ra, còn có một số loại hình du lịch khác như: Du lịch mạo hiểm; du lịch học tập; du lịch chữa bệnh; du lịch tình nguyện…[7, tr. Chủ thể quản lí nhà nước và phân cấp quản lí nhà nước về du lịch Các hoạt động du lịch tại huyện Nam Giang chủ yếu chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý du lịch cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã (chủ thể quản lí nhà nước về du lịch). Cụ thể: - Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh là UBND tỉnh Quảng Nam; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam là cơ quan tham mưu trực tiếp công tác quản lý Nhà nước về du lịch cho UBND tỉnh; - Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp huyện là UBND huyện Nam Giang; Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Nam Giang là cơ quan tham mưu trực tiếp công tác quản lý Nhà nước về du lịch cho UBND huyện; - Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp xã là UBND cấp xã.
10 n Quản lí nhà nước về du lịch là phương thức mà nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ quản lí bao gồm pháp luật, chính sách để tác động vào đối tượng quản lí nhằm định hướng cho các hoạt động du lịch vận động, phát triển đạt được mục tiêu đặt ra trên cơ sở sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế. Như vậy, nói đến quản lí nhà nước về du lịch là nói đến cơ chế quản lí; cơ chế đó, một mặt phải tuân thủ các yêu cầu của qui luật kinh tế khách quan; mặt khác, phải có một hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách thích hợp để quản lí. Quan niệm này bao hàm những nội dung cơ bản: - Các cơ quan nhà nước có chức năng quản lí nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương là chủ thể quản lí; các quan hệ xã hội vận động và phát triển trong lĩnh vực du lịch là đối tượng quản lí và hệ thống chính sách, pháp luật là công cụ để nhà nước thực hiện sự quản lí; - Tạo môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động du lịch phát triển nhưng có trật tự, cạnh tranh lành mạnh nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích. - Thực hiện kiểm tra, thanh tra, kiểm soát nhằm đảm bảo trật tự, kỉ cương, xử lí kịp thời những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật.
Việc phân cấp quản lí nhà nước về du lịch được qui định rõ trong Luật Du lịch năm 2017: - Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch; - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch. 11 n - Ủy ban Nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương. Ở cấp huyện, quản lí nhà nước về du lịch chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của các cơ quan ngành tương ứng ở cấp tỉnh. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chính quyền cấp huyện có trách nhiệm thực hiện quản lí nhà nước về du lịch tại địa phương theo sự phân cấp, bao gồm các nội dung cụ thể như sau: (1) Hoạch định chính sách phát triển du lịch trên địa bàn huyện (2) Tổ chức triển khai thực hiện các qui định, chính sách về phát triển du lịch trên địa bàn huyện (3) Kiểm tra, kiểm soát chính sách phát triển du lịch trên địa bàn huyện 1.
Đặc điểm và nguyên tắc quản lí nhà nước về phát triển du lịch 1.